Luận văn UEH: Đánh giá sự đồng ý của xã hội về Thuế BVMT xăng dầu

Luận văn thạc sĩ môi trường phân tích ueh đánh giá sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng dầu ở việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ ĐỒNG Ý CỦA XÃ HỘI ĐỐI VỚI THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Ngoại tác tiêu cực và đánh thuế Pigou

1.1.1. Ngoại tác tiêu cực

1.1.2. Nội hoá ngoại tác tiêu cực và hạn chế thị trường

1.1.3. Đánh thuế Pigou

1.2. Sự đồng ý của xã hội và đánh thuế Pigou

1.2.1. Vấn đề chính trị ảnh hưởng đến sự ủng hộ thuế Pigouvian

1.2.2. Các khía cạnh đồng ý của xã hội

1.2.3. Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm về sự đồng ý của xã hội đối với thuế bảo vệ môi trường

1.3. Tổng kết Chương Một

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐÔ THỊ DO PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG GÂY RA VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ, PHÍ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam

2.1.1. Vấn đề tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam

2.1.2. Hiện trạng chất lượng môi trường không khí đô thị

2.2. Chính sách về phí, thuế đối với xăng dầu tại Việt Nam

2.2.1. Phí xăng dầu

2.2.2. Các loại thuế đánh trên mặt hàng xăng dầu

2.3. Tổng kết Chương Hai

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình nghiên cứu

3.1.1. Mô hình tổng quát

3.1.2. Mô hình chi tiết

3.2. Xây dựng thang đo

3.2.1. Biến phụ thuộc và thang đo

3.2.2. Biến độc lập và thang đo

3.3. Dữ liệu nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.5. Kết quả mô hình và thảo luận

3.5.1. Kết quả khảo sát sự ủng hộ công chúng đối với thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu

3.5.2. Kết quả nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự ủng hộ thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu

3.5.3. Kết quả dự đoán sự ủng hộ thuế của cá nhân

3.6. Kiểm định tính phù hợp của mô hình

3.7. Tổng kết Chương Ba

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Một số các khuyến nghị

4.2. Những mặt hạn chế của đề tài

4.3. Đề xuất khắc phục những mặt hạn chế của đề tài

4.4. Tổng kết Chương Bốn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu tại TP HCM

Luận văn này tập trung vào việc đánh giá sự đồng ý của xã hội về chính sách thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng dầu tại TP HCM. Chính sách này được áp dụng nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí và khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về quan điểm của người dân mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách.

1.1. Định nghĩa và vai trò của thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường là một công cụ quan trọng trong việc điều tiết hành vi tiêu dùng và sản xuất. Nó nhằm mục đích giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông vận tải. Việc áp dụng thuế này có thể giúp giảm lượng khí thải từ các phương tiện giao thông, từ đó cải thiện chất lượng không khí.

1.2. Tình hình thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế bảo vệ môi trường đã được áp dụng từ năm 2012. Mức thuế này được điều chỉnh định kỳ nhằm phù hợp với tình hình kinh tế và môi trường. Tuy nhiên, sự đồng ý của xã hội về mức thuế này vẫn còn nhiều tranh cãi, đặc biệt là trong bối cảnh giá xăng dầu tăng cao.

II. Vấn đề ô nhiễm không khí do xăng dầu tại TP HCM

Ô nhiễm không khí tại TP HCM đang ở mức báo động, chủ yếu do lượng phương tiện giao thông cá nhân ngày càng tăng. Việc sử dụng xăng dầu không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này, trong đó có việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường.

2.1. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí tại TP HCM bao gồm khí thải từ các phương tiện giao thông, bụi từ xây dựng và hoạt động công nghiệp. Trong đó, xăng dầu là nguồn phát thải chính, gây ra các bệnh về hô hấp và các vấn đề sức khỏe khác cho người dân.

2.2. Tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe

Ô nhiễm không khí có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như hen suyễn, viêm phổi và các bệnh tim mạch. Theo nghiên cứu, tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp tại TP HCM tăng cao do ô nhiễm không khí, đặc biệt là ở trẻ em và người già.

III. Phương pháp nghiên cứu đánh giá sự đồng ý của xã hội

Để đánh giá sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khảo sát định lượng. Dữ liệu được thu thập từ 380 người dân tại TP HCM, với các câu hỏi liên quan đến nhận thức và thái độ của họ đối với chính sách thuế này.

3.1. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

Bảng hỏi khảo sát được thiết kế với các câu hỏi nhằm đánh giá nhận thức của người dân về thuế bảo vệ môi trường, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự đồng ý của họ. Các câu hỏi bao gồm mức thuế hiện tại, tác động của thuế đến hành vi tiêu dùng và sự tin tưởng vào chính phủ.

3.2. Phân tích dữ liệu khảo sát

Dữ liệu khảo sát được phân tích bằng phần mềm Stata để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường. Kết quả phân tích sẽ giúp hiểu rõ hơn về quan điểm của người dân và đưa ra các khuyến nghị cho chính sách.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu còn thấp. Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức rõ về lợi ích của chính sách này. Tuy nhiên, có một số yếu tố như thu nhập, nhận thức về ô nhiễm và lòng tin vào chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến sự đồng ý của họ.

4.1. Mức độ đồng ý của người dân

Kết quả khảo sát cho thấy chỉ khoảng 30% người dân đồng ý với mức thuế hiện tại. Nhiều người cho rằng mức thuế này quá cao và ảnh hưởng đến chi phí sinh hoạt hàng ngày của họ.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đồng ý

Các yếu tố như thu nhập, nhận thức về ô nhiễm không khí và lòng tin vào chính phủ có tác động lớn đến sự đồng ý của người dân. Những người có thu nhập cao hơn thường có xu hướng đồng ý với chính sách thuế hơn.

V. Kết luận và khuyến nghị cho chính sách thuế

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu tại TP HCM còn nhiều hạn chế. Để nâng cao sự đồng ý này, cần có các biện pháp truyền thông hiệu quả hơn về lợi ích của chính sách thuế, cũng như cải thiện lòng tin của người dân vào chính phủ.

5.1. Đề xuất cải thiện chính sách thuế

Cần xem xét điều chỉnh mức thuế bảo vệ môi trường sao cho hợp lý hơn, đồng thời tăng cường các biện pháp hỗ trợ cho người dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp.

5.2. Tăng cường truyền thông về chính sách

Chính phủ cần đẩy mạnh các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của thuế bảo vệ môi trường, từ đó tạo sự đồng thuận trong xã hội.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá sự đồng ý của xã hội về thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng dầu ở việt nam trường hợp tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ ĐỒNG Ý CỦA XÃ HỘI ĐỐI VỚI THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Ngoại tác tiêu cực và đánh thuế Pigou 1.1 Ngoại tác tiêu cực  Khái niệm ngoại tác tiêu cực Ngoại tác tiêu cực là khái niệm chỉ hiện tượng khi một hành động của đối tác làm cho đối tác khác xấu đi, mà đối tác ban đầu không gánh chịu chi phí từ hành động đó. Ngoại tác tiêu cực có thể xảy ra hằng ngày với mức độ và phạm vi tương tác khác nhau. Các trường hợp tiêu biểu cho ngoại tác tiêu cực như nhà máy thải hoá chất ra dòng sông làm ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến các hộ dân sống ven bờ sông; hành vi hút thuốc lá nơi công cộng gây khó chịu cho những người xung quanh hoặc sử dụng phương tiện giao thông có sử dụng nhiên liệu gây ô nhiễm môi trường không khí. Ngoại tác tiêu cực có hai loại, bao gồm ngoại tác sản xuất tiêu cực và ngoại tác tiêu dùng tiêu cực.

 Ngoại tác sản xuất tiêu cực Ngoại tác sản xuất tiệu cực là khi sản xuất của một công ty làm giảm đi tình trạng thoả dụng của người khác mà công ty đó không bồi thường. Ta phân tích trường hợp cơ sở sản xuất thép bên cạnh một dòng sông. Trong ngành công nghiệp sản xuất thép, sản phẩm phụ thải ra từ quá trình sản xuất này là chất bùn quánh. Các công ty thép gần sông có khuynh hướng thải các chất bùn quánh ra dòng sông.

Trên dòng sông này có các hộ gia đình làm nghề đánh cá. Nhà máy thép thải ra các chất bùn quánh trong quá trình sản xuất làm cá chết, gây thiệt hại cho các hộ gia đình ven sông nhưng không bồi thường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Đối với công ty sản xuất thép, lợi ích và chi phí tư nhân là lợi ích và chi phí mà các chủ thể trong thị trường sản xuất và tiêu thụ thép gánh phải. + Đối với xã hội, lợi ích và chi phí toàn xã hội là lợi ích và chi phí tư nhân cộng với lợi ích và chi phí của các chủ thể bên ngoài thị trường thép ( hộ gia đình đánh cá) chịu tác động trong quá trình sản xuất thép.

Khi không có ngoại tác ( tức thiệt hại cho người đánh cá không xảy ra): - Chi phí biên xã hội ( SMC) bằng chi phí biên tư nhân (PMC) Khi xảy ra ngoại tác ( tức có thiệt hại đối với người đánh cá do các chất bùn quánh trong quá trình sản xuất thép thải ra- thiệt hại này được mặc định là 100 đô la) - Chi phí biên xã hội ( SMC) bằng chi phí biên tư nhân ( PMC) cộng mức thiệt hại đối với người đánh cá ( MD = 100 đô la) Đồ thị 1.1 Ngoại tác sản xuất tiêu cực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong đồ thị 1.1, đường cong SCM là đường cong PMC dịch chuyển lên trên một đoạn bằng với chi phí thiệt hại biên 100 đô la. Ở mức sản lượng thép Q1, chi phí biên xã hội bằng chi phí biên tư nhân (P1) cộng với 100 đô la. Ở mỗi điểm trên đường cầu thị trường thép phản ánh tổng cộng mức sẵn lòng của các cá nhân trong việc tiêu thụ thép, là lợi ích biên tư nhân (PMB) của đơn vị thép. Kết quả phúc lợi của tiêu dùng được xác định bằng lợi ích biên xã hội ( SMB), là kết quả của lợi ích biên tư nhân cộng các chi phí liên quan đến tiêu dùng hàng hoá đó mà người tiêu dùng gánh phải.

Trong trường hợp này không có chi phí liên quan người tiêu dùng thép, vì vậy: SMB = PMB. Khi không có ngoại tác, cân bằng xã hội được xác định tại điểm A, nơi đó sản lượng sản xuất là Q1 và giá cả là P1. Khi tính đến ngoại tác, cân bằng xã hội là điểm C, nơi đó sản lượng sản xuất là Q2 và giá cả là P2. Lý do là người sản xuất thép không tính đến các thiệt hại gây ra trong quá trình sản xuất thép, mỗi đơn vị vải được sản xuất kéo ra việc chết cá trên dòng sông.

Do đó đường cung không phản ảnh chính xác tổng chi phí sản xuất ra lượng thép Q1. Kết quả quá nhiều thép được sản xuất và cân bằng thị trường tư nhân không còn là tối đa hoá hiệu quả xã hội. Nếu nhà máy thép tiếp tục sản xuất ở mức sản lượng Q1 sẽ tạo ra tổn thất xã hội do chi phí biên xã hội vượt quá lợi ích biên xã hội. Trong trường hợp này, tổn thật xã hội được đo bằng diện tích tam giác ABC.

 Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực là khi tiêu dùng của cá nhân làm giảm đi tình trạng thoả dụng của người khác mà cá nhân đó không bồi thường. Xét trường hợp xảy ra trong một nhà hàng cho phép hút thuốc lá. A là người đang hút thuốc lá. Trong khi đó B là người đang dùng bữa ăn trong nhà hàng.

Việc thưởng thức bữa ăn của B bị ảnh hưởng do mùi khói thuốc từ việc tiêu dùng thuốc lá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của A gây ra. Tuy nhiên B không được A bồi thường bất cứ chi phí nào. Như vậy trong trường hợp này, sự tiêu dùng hàng hoá của người này làm giảm đi tình trạng tiêu dùng hàng hoá của người khác, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng không được bồi thường. Trong trường hợp không có ngoại tác: - Lợi ích biên tư nhân (PMB) bằng lợi ích biên của xã hội (SMB) Khi xảy ra ngoại tác tiêu dùng tiêu cực (lúc này tổn thất biên của B gánh chịu do A tiêu dùng thuốc lá, tổn thất này mặc định là MD = 40 đô la) - Lợi ích biên xã hội (SMB) bằng lợi ích biên tư nhân (PMB) trừ đi tổn thất biên xảy ra (MD).2: Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Phân tích đồ thị 1.2, ta thấy: Nếu hành động hút thuốc của A không gây phiền hà đến bữa ăn của B, tức ngoại tác không có thì cân bằng xã hội là điểm A, ở đó đường cung S = SMC = PMC (do không có tính đến chi phí liên quan sản xuất thuốc lá) giao với đường cầu D = PMB.

Khi hành động hút thuốc của A gây phiền hà cho bữa ăn của B, mức thiệt hại của B là MD được tính toán bằng 40 đô la thì lúc này tại Q1, lợi ích biên xã hội bằng lợi ích biên tư nhân tại mức P1 trừ đi 40 đô la. Cân bằng xã hội lúc này là điểm C, ở đó đường cung S = SMC = PMC giao với đường cầu SMB = PMB – MD. Tại điểm C, tối đa hoá hiệu quả xã hội xảy ra với mức giá P2 và số lượng bao thuốc lá tiêu thị là Q2. Dưới tác hại của việc hút thuốc lá mà A gây ra cho B, khi sự tiêu dùng thuốc lá của A vẫn diễn ra quá mức bằng Q1-Q2 thì chi phí xã hội vượt quá lợi ích xã hội.

Lúc này tổn thất xã hội được tính toán bằng diện tích tam giác ABC.2 Nội hoá ngoại tác tiêu cực và hạn chế thị trường  Nội hoá ngoại tác tiêu cực Nội hoá ngoại tác tiêu cực là áp đặt chi phí lên chủ thể tác động ban đầu nhằm mục đích hạn chế những tác động tiêu cực của đối tác này lên các đối tác khác. Trước hết, ta nói về các giải pháp của khu vực tư để giải quyết các vấn đề về ngoại tác. Ở đây, ta đề cập trực tiếp đến ngoại tác sản xuất tiêu cực. Trong trường hợp này, ta xét đến vấn đề gây ô nhiễm của nhà máy thép ở cạnh dòng sông đến những người đánh cá ven sông.

Trong quá trình sản xuất thép, bùn quánh được hình thành và nếu không được xử lý tốt, nó sẽ được thải ra môi trường nước và gây hại cho các hoạt động khác diễn ra ở trên con sông. Làm thế nào để hạn chế sự bất cân xứng trong lợi ích giữa nhà máy và người đánh cá. Ta xét tình huống 1: Con sông thuộc quyền sở hữu của những người đánh cá. Lúc này, người đánh cá có quyền đòi hỏi nhà máy bồi thường, thậm chí yêu cầu nhà máy phải ngừng sản xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Vì không thể nào ngừng sản xuất hoàn toàn, do đó nhà máy sẽ thương lượng và đồng ý trả cho người đánh cá thêm một khoản phí thiệt hại đã gây ra trên dòng sông trên mỗi đơn vị thép bán ra ( tất nhiên số thép bán ra phải có tổng lợi nhuận lớn hơn tổng số tiền đền bù thiệt hại). Như vậy, tổng chi phí đầu vào của nhà máy thép bao gồm chi phí riêng phục vụ cho việc sản xuất thép và chi phí đền bù thiệt hại cho người đánh cá.3: Ngoại tác sản xuất tiêu cực và sự mặc cả Dựa theo đồ thị 1.3, ta thấy: Nếu ô nhiễm không xảy ra trên dòng sông bởi nhà máy thép thì lúc này cân bằng xã hội là ở điểm A, nơi đường cong chi phí biên xã hội ( bằng với chi phí biên tư nhân) giao với lợi ích biên xã hội ( bằng với lợi ích biên tư nhân). Tại điểm A, nhà máy sẽ sản xuất thép với số lượng Q1 và giá P1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Nếu ô nhiễm xảy ra bởi quá trình sản xuất thép của nhà máy thì lúc này, đường cong chi phí biên sẽ bao gồm thêm chi phí đền bù thiệt hại (MD).

Do đó điểm cân bằng xã hội mới sẽ là điểm C. Tại đây, nhà máy thép sẽ sản xuất với giá P2 cao hơn P1 và sản lượng Q2 thấp hơn Q1. Như vậy, nhà máy thép sẽ không sản xuất quá mức bởi chi phí và lợi ích xã hội trên mỗi đơn vị sản xuất là bằng nhau. Ta xét tình huống 2: Con sông thuộc quyền sở hữu của nhà máy thép.

Lúc này người đánh cá không có tiếng nói nào trong việc cấm cản vô điều kiện nhà máy thép trong vấn đề sản xuất thép. Nếu những người đánh cá không muốn quyền lợi bị ảnh hưởng quá nhiều, họ có thể thương lượng bằng phương án trả cho nhà máy thép một mức phí là 50 đô la cho mỗi đơn vị thép không được sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc nếu nhà máy thép sản xuất ra một đơn vị thép, họ sẽ chịu tổng chi phí bao gồm chi phí riêng cho quá trình sản xuất một đơn vị thép và chi phí cơ hội 50 đô la.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ