Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này dành cho việc tìm hiểu những nền tảng lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài, đó là các vấn đề lớn như: - Khái quát về thiên nhiên; - Khái quát về từ loại Ngoài ra, chúng tôi có điểm qua về tác giả Trần Đăng Khoa và “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa”. Khái quát về thiên nhiên 1. Khái niệm Thiên nhiên là một danh từ quen thuộc được chúng ta sử dụng nhiều trong các hoạt động học tập và lao động hằng ngày. Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì “thiên nhiên hay còn được gọi là tự nhiên, thế giới vật chất vũ trụ… Nó bao gồm tất cả các dạng vật chất và năng lượng tồn tại từ cấp độ bé là hạt nguyên tử đến cấp độ to lớn như ngôi sao, thiên hà, ngân hà…” [58] Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, “tự nhiên cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã.
Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác - cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên” [58]. Còn nói theo cách hiểu đơn giản, thông dụng thì “thiên nhiên bao gồm tất cả những gì bao quanh con người mà không do bàn tay con người tạo ra. Thiên nhiên bao gồm không khí, khí hậu, nguồn nước, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn động thực vật, các yếu tố địa lý, địa hình…” [58]. Như vậy, có thể nói, thiên nhiên là cái nôi sản sinh ra sự sống, giúp cân bằng hệ sinh thái và là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống và sản xuất sinh hoạt của con người.
Phân loại thiên nhiên Căn cứ vào khái niệm về thiên nhiên ở trên, có thể xác lập các phạm trù thuộc thiên nhiên như sau: - Các hiện tượng tự nhiên; - Động vật; - Thực vật; - Thời gian; - Thực thể tự nhiên. Các hiện tượng tự nhiên Có thể thấy “Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng khí tượng phức hợp, bao gồm nhiều yếu tố trong khí quyển gây ra” [58]. Các hiện tượng tự nhiên điển hình mà chúng ta có thể kể ra đó là: mưa, gió, bão, dông, sấm, sét, tuyết, sóng… Ở mỗi hiện tượng tự nhiên khác nhau, lại do những yếu tố khác nhau trong hiện tượng khí tượng gây ra. VD: dông hay còn được viết là giông được hình thành khi có khối không khí nóng ẩm chuyển động, là hiện tượng bao gồm chớp kèm theo sấm do đối lưu rất mạnh trong khí quyển gây ra.
Nó thường kèm theo gió mạnh, mưa rào, sấm sét dữ dội, thậm chí cả mưa đá, vòi rồng. Ở những vùng vĩ độ cao, có khi còn có cả tuyết rơi. Sét hay tia sét là hiện tượng phóng điện trong khí quyển giữa các đám mây và đất hay giữa các đám mây mang các điện tích khác dấu, đôi khi còn xuất hiện trong các trận phun trào núi lửa hay bão bụi (cát). Mưa là một hiện tượng tự nhiên, xảy ra do sự ngưng tụ của hơi nước trên bầu trời, dưới dạng những đám mây, khi gặp điều kiện lạnh, tạo thành giọt nước, nặng hơn không khí, và rơi xuống mặt đất, tạo thành cơn mưa.
Nhưng cũng có những hiện tượng tự nhiên xảy ra, mà con người chưa giải thích được như: ánh sáng lạ xuất hiện trước động đất, sét hình cầu… Qua những ví dụ trên cho ta thấy, tất cả các hiện tượng tự nhiên kì thú đó đều do thiên nhiên tạo ra. Mà con người muốn giải thích nó đều phải thông qua các nghiên cứu của khoa học tự nhiên như: vật lí học, hóa học. Động vật “Động vật là một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, được phân loại là giới động vật trong hệ thống phân loại 5 giới. Cơ thể của chúng lớn lên khi phát triển.
Hầu hết động vật có khả năng di chuyển một cách tự nhiên và độc lập” [59]. Theo định nghĩa về động vật, ta thấy, động vật được chia thành nhiều nhóm nhỏ, một vài trong số đó là động vật có xương sống (ví dụ: chim, khỉ, cá sấu, chó, mèo, cá…); động vật thân mềm ( ví dụ: trai, hàu, bạch tuộc, mực, và ốc sên…); động vật chân khớp (ví dụ: cuốn chiếu, rết, côn trùng, nhện, bọ cạp, tôm hùm, tôm…); giun đốt (ví dụ: giun đất, đỉa); bọt biển và sứa. Thế giới động vật rất phong phú và đa dạng. Chúng xuất hiện ở hầu khắp các quốc gia, qua vài tỉ năm tiến hóa và có khoảng 7.7 triệu loài đã được phát hiện.
Bên cạnh những động vật đơn bào có kích thước hiểm vi, còn có các động vật rất lớn như: trai tượng (vỏ dài 1,4 m; nặng 250 kg), voi châu Phi (nặng 4 tấn; cao 3m), cá voi xanh (nặng 150 tấn; dài 33m)… Một số động vật được con người thuần hóa thành vật nuôi. Từ khi được con người thuần dưỡng, chúng đã khác nhiều với tổ tiên hoang dại và biến đổi thành nhiều loại, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của con người. Ví dụ: Gà nuôi có tổ tiên là loài gà rừng nhỏ nhắn còn đang sống ở rừng nhiệt đới. Nhưng gà nuôi đã biến đổi rất nhiều về màu lông, kích thước, về chiều cao và khác xa với tổ tiên của chúng.
Chính vì vậy, có thể nói các loài động vật sống ở nhiều môi trường khác nhau và thích nghi với môi trường đó. Thực vật “Thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật” (theo Bách khoa toàn thư - Wikipedia). Như vậy, thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng. Thực vật không có khả năng chuyển động tự do ngoại trừ một số thực vật hiển vi có khả năng chuyển động được.
Thực vật còn khác ở động vật là chúng phản ứng rất chậm với sự kích thích, sự phản ứng lại thường phải đến hàng ngày và chỉ trong trường hợp có nguồn kích thích kéo dài. 7 Thực vật là một nhóm chính các sinh vật, bao gồm các sinh vật rất quen thuộc như: cây, hoa, cây cỏ, dương xỉ, rêu… Vào thời điểm năm 2007, có khoảng 300.000 loài đã được nhận dạng, trong đó 258.650 loài thực vật có hoa và 15. Thời gian Thời gian là một phần rất quan trọng, là thước đo cho cuộc sống, người ta sử dụng thời gian để đặt mốc cho mọi sự vật, sự việc. Chính vì vậy, có thể nói thời gian là một thứ rất khó để định nghĩa.
Từ thời gian có trong tất cả các ngôn ngữ của loài người và có thể có cả ở động vật. Định nghĩa về thời gian là một định nghĩa khó nếu phải cắt nghĩa chính xác. Chính vì vậy, chúng tôi thấy định nghĩa của Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) là hợp lí, khi nói rằng: “Thời gian là khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó” [60].
Khái niệm này đã được đông đảo mọi người tán thành. Cho đến bây giờ, chúng ta thấy rõ thời gian chỉ có một chiều duy nhất đó là từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Thời gian được tính bằng ngày, đêm, sáng, tối, năm… 1. Thực thể tự nhiên Đây là một khái niệm rất rộng và trừu tượng.
“Thực thể là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hoặc như một khách thể, một cách thực sự hay một cách tiềm năng, một cách cụ thể hay một cách trừu tượng, một cách vật lý hoặc không. Nó không cần là sự tồn tại vật chất. Nói riêng, vật trừu tượng và trừu tượng pháp lý được coi như là các thực thể” [61]. Qua đó, chúng ta có thể hình dung thực thể tự nhiên là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, mà không hề có bàn tay con người tác động vào.
Thực thể tự nhiên có thể gắn liền với bầu trời như: mây, mặt trời, mặt trăng, sao… nhưng cũng có khi thực thể tự nhiên gắn liền với mặt đất như: núi, sông, đồi, biển, than, đá, cát… 8 1. Khái quát về từ loại tiếng Việt 1. Khái niệm Như đã biết, vốn từ của mỗi ngôn ngữ có số lượng vô cùng lớn và không có sự thuần nhất. Vì vậy, để có thể nắm được và sử dụng các từ một cách tiện lợi, cần tiến hành phân loại chúng.
Việc phân loại từ có thể được thực hiện dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào ý nghĩa, có thể chia từ thành: từ đơn nghĩa, từ đa nghĩa. Căn cứ vào cấu tạo, có thể từ chia thành: từ đơn, từ phức (gồm từ ghép, từ láy). Căn cứ vào phạm vi sử dụng, có thể chia từ thành: từ toàn dân, từ địa phương.
Căn cứ vào nguồn gốc, có thể chia từ thành: từ thuần Việt và từ vay mượn… Trong ngữ pháp học, còn có cách phân loại từ dựa đồng thời vào ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp (theo nghĩa rộng, được hiểu là toàn bộ đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ). Cách phân loại này cho ta những phạm trù ngữ pháp hay những lớp từ được gọi là từ loại… Vậy “từ loại là những lớp từ được phân định dựa vào những đặc điểm chung về ý nghĩa và hình thức ngữ pháp” [54]. Theo định nghĩa này, Nguyễn Văn Lộc đã dựa vào sự giống nhau vào đặc điểm chung về ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của các từ để phân tách ra thành từng loại. Hệ thống từ loại tiếng Việt Dựa vào tiêu chí xác định từ loại khác nhau mà có nhiều tác giả phân loại thành các nhóm từ khác nhau.
Chúng tôi theo tác giả Lê A [1,tr.25] chia từ thành hai loại lớn sau: - Thực từ (bao gồm các từ loại danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ); - Hư từ (bao gồm các từ loại phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ).