Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI GẤY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Những vấn đề lý luận 1. Cơ sở lý luận Để duy trì xã hội tồn tại trong một trật tự nhất định, loài người đã sử dụng nhiều công cụ điều chỉnh khác nhau, trong đó có pháp luật. Pháp luật chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội, vừa mang tính khách quan (do đòi hỏi khách quan của xã hội đã phát triển ở một trình độ nhất định) vừa mang tính chủ quan, ý chí của giai cấp thống trị.
Trong một xã hội có giai cấp, pháp luật luôn là một công cụ quản lý hiệu quả, quan trọng và không thể thiếu của Nhà nước. Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội có mức độ quan trọng nhất định. Trong bối cảnh Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và duy trì trật tự, an toàn xã hội nói chung và an toàn tại nơi công cộng nói riêng thì cần có một văn bản pháp lý đủ mạnh, đủ sức răn đe để thực hiện việc đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng. Trong thời gian gần đây các hành vi gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhiều người tụ tập, la hét, đập phá, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Nhận thức rõ điều này, Nhà nước Việt Nam luôn luôn sẵn sàng dùng những biện pháp khác nhau nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị. Chính sách của Nhà nước được thể hiện một cách toàn diện thông qua nhiều công cụ khác nhau, trong đó có pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm thì các quy định của pháp luật hình sự là một trong những biện pháp phòng ngừa quan trọng, khi 9 các hành vi vi phạm pháp luật nào được coi là tội phạm thì giúp các quan hệ xã hội ổn định, bền vững. Biện pháp xử lý hành chính cũng có tác dụng nhưng nó không đủ mạnh như pháp luật hình sự.
Khi chủ thể có ý định thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, những chủ thể này sẽ có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi (phải chịu hình phạt) nếu thực hiện. Chính vì vậy, quy định tội gây rối trật tự công cộng là việc sử dụng biện pháp xử lý hình sự với mục đích làm công cụ chính, hiệu quả để răn đe, ngăn ngừa và trừng trị người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng cũng như răn đe người có ý định thực hiện hành vi gây mất an ninh trật tự. Bên cạnh những cơ sở lý luận, thực tiễn trong những năm vừa qua tình hình tội gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng về số vụ và phức tạp về tính chất vụ việc. Trong khi tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại BLHS năm 1999 đã được BLHS năm 2015 sửa đổi cơ bản nhưng đến nay nhiều nội dung về cấu thành tội phạm và cấu thành định khung tăng nặng vẫn chưa được hướng dẫn, điều đó dẫn đến việc áp dụng áp luật chưa được thống nhất.
Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện, kiện toàn quy định của BLHS về tội gây rồi trật tự công cộng là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để quy định về vấn đề này trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm, các dấu hiệu đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng 1. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng * Khái niệm trật tự công cộng.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường bắt gặp những thuật ngữ rất quen thuộc như giữ gìn trật tự công cộng, an toàn công cộng. Tuy nhiên, chính trong luật pháp luật hình sự cũng chưa đưa ra khái niệm, định nghĩa chính thức như thế nào là trật tự công cộng với tư cách là một khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. 10 “Trật tự” theo Từ điển tiếng Việt là của tác giả Thái Xuân Đệ là “thứ tự trên dưới, trước sau theo một quy tắc nhất định, tình trạng có tổ chức, có kỷ luật” còn “công cộng” là thuộc về mọi người hoặc phục vụ chung cho mọi người [2, tr. Thuật ngữ “Trật tự công cộng” được Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp giải thích trong Từ điển Luật học: Là trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng.
Những nơi phục vụ lợi ích công cộng được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… [3, tr. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Trật tự công cộng là sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi. Hay nói cách khác là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo” [4, tr 755]. Mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên từ các công trình đã và đang nghiên cứu, chúng ta có thể định nghĩa: “Trật tự công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung, mà đòi hỏi mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định chung đó nhằm đảm bảo cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người trong xã hội”.
* Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng. Hiện nay, trong khoa học luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội gây rối trật tự công cộng. 11 Quan điểm thứ nhất cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là nhóm các hành vi xâm phạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định điều luật trong pháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định của điều luật này [5, tr 25]. Quan điểm thứ hai cho rằng: xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự công cộng làm cản trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng [5, tr 25].
Ưu điểm của tác giả này đã nêu rõ được khách thể của tội gây rối trật tự công cộng mà tội phạm xâm phạm đến nhưng chưa nêu được dậu hiệu chủ thể và hành vi phạm tội của tội phạm này. Quan điểm khác cho rằng: "Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm náo loạn trật tự nơi công cộng" [6, tr 13]. Quan điểm này mới chỉ nêu định nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 BLHS. Ngoài ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của BLHS năm 1999 (Điều 245) để định nghĩa: "Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" [7, tr 7].
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam năm 1999, thì quan điểm này chưa đựng những yếu tố hợp lý, nhưng dấu hiệu pháp lý đặc trưng về chủ thể của tội phạm trong khái niệm. Những quan điểm trên dù cũng chứa đựng yếu tố hợp lý nhưng vẫn chưa đầy đủ các dấu hiệu về mặt pháp lý, khái niệm tội phạm đã được quy định trong BLHS tại khoản 1 Điều 8, bao gồm các dấu hiệu: Thứ nhất phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; Thứ hai: Phải do 12 chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân); Thứ ba: Xâm hại đến những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ; thứ tư tính phải bị xử lý hình sự theo quy định của BLHS [8]. Như vậy, từ những quan điểm nghiên cứu, có thể đưa ra khái niệm như sau: Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, xâm hại trật tự an toàn công cộng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng Hành vi xảy ra được xem là hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự thì hành vi đó phải thỏa mãn các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể do pháp luật hình sự quy định.
Qua nghiên cứu tội gây rối trật tự công cộng, cho thấy việc định tội danh đối với tội phạm này phải dựa trên các yếu tố cấu thành như sau: * Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS. Theo quy định này chủ thể của tội phạm nói chung và chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng nói riêng là con người cụ thể, đang sống - thể nhân. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác.