Chương 1. Một số vấn đề chung về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chương 2. Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Thực trạng thi hành. Định hƣớng, giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao tổ chức thực thi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát tối cao đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp.
9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO 1. Khái niệm thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân 1. Thẩm quyền điều tra Điều tra đƣợc hiểu là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con ngƣời. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm.
Hoạt động điều tra đƣợc nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nƣớc. Pháp luật hình sự của các nƣớc trên thế giới cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm điều tra, tuy nhiên, đặc điểm chung của các quan điểm đó là nêu bật đƣợc nội dung bản chất của hoạt động điều tra là hoạt động phát hiện, thu thập, củng cố, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án. Ở Việt Nam, điều tra đƣợc coi là một giai đoạn của tố tụng hình sự, có nhiệm vụ điều tra thu thập chứng cứ, chứng minh mọi tình tiết của vụ án, làm rõ tội phạm và hành vi phạm tội của bị can cũng nhƣ vấn đề khác có liên quan. Kết quả điều tra là cơ sở để Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trƣớc Tòa án hoặc đình chỉ vụ án, cũng trên cơ sở kết quả điều tra, tòa án mở phiên tòa thẩm định các chứng cứ đã thu thập làm cơ sở cho việc ra bản án và các quyết định của tòa án.
Nói cách khác, CQĐT có chức năng điều tra làm rõ vụ án phục vụ cho việc truy tố và xét xử trong tố tụng hình sự. Để thực hiện chức năng này, nhà nƣớc hình thành hệ thống các CQĐT với mục đích bảo đảm hoạt động điều tra nhanh chóng và chính xác. Khi đã hình thành hệ thống các CQĐT thì việc phân định thẩm quyền điều tra 10 là đòi hỏi tất yếu. Việc phân định thẩm quyền điều tra không những xác định phạm vi thẩm quyền của từng CQĐT mà còn tránh sự chồng chéo về thẩm quyền hoặc bỏ lọt vụ việc mà không có CQĐT nào tiến hành.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thẩm quyền điều tra nói chung là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật (nhƣ thẩm quyền xét xử của Tòa án. Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì thẩm quyền là quyền đƣợc thực hiện những hành vi và ra quyết định pháp lý nhất định của chủ thể theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, thẩm quyền là quyền hạn của một cơ quan, một tổ chức hoặc một cá nhân đƣợc làm một việc hoặc một loại công việc trong phạm vi pháp luật cho phép, phạm vi đó là giới hạn của thẩm quyền. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, sự phân định thẩm quyền đƣợc thiết lập giữa các cơ quan tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng.
Từ góc độ tố tụng hình sự thì thẩm quyền đƣợc hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ thực hiện các hành vi tố tụng và ra quyết định tố tụng của cơ quan, tổ chức cá nhân đƣợc pháp luật tố tụng hình sự quy định. Cũng theo Từ điển Tiếng Việt thì điều tra là những hành động “tìm hiểu, xem xét để biết rõ sự thật”. Nhƣ vậy, thẩm quyền điều tra trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ tìm hiểu hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, xác định hậu quả phạm tội. Để thực hiện các biện pháp bảo đảm bồi thường, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa.
Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Sau khi VKSND đƣợc thành lập vào năm 1960, ngày 16.1962, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tổ chức VKSNDTC. Tại Điều 5 của Pháp lệnh quy định về bộ máy làm việc của VKSNDTC đã quy 11 định rõ: VKSNDTC gồm 8 đơn vị, trong đó có Vụ Điều tra thẩm cứu có thẩm quyền điều tra những vụ án mà CQĐT không đảm bảo khách quan và kể từ đó cho đến nay, theo quy định của pháp luật thì trong cơ cấu, tổ chức bộ máy của VKSND luôn có CQĐT có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự. Cơ quan điều tra thuộc VKSND là một thành phần trong hệ thống các cơ quan chuyên trách điều tra tội phạm ở nƣớc ta. Theo quy định tại Điều 163 BLTTHS 2015: Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ƣơng điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chƣơng XXIII và Chƣơng XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, ngƣời có thẩm quyền tiến hành hoạt động tƣ pháp [42].
Cùng với các CQĐT trong lực lƣợng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, CQĐT của VKSND cũng là lực lƣợng tiên phong trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nếu hoạt động của CQĐT trong lực lƣợng Công an nhân dân nhằm mục tiêu bảo đảm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo về tính mạng, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thì hoạt động của CQĐT VKSND lại nhằm giúp cho việc thực hiện tốt chức năng của ngành Kiểm sát là: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp góp phần bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất theo Hiến pháp. Từ năm 1960 đến năm 1978, hoạt động điều tra của VKSND đƣợc thực hiện ở cả ba cấp: Trung ƣơng, cấp tỉnh và cấp huyện. Giai đoạn này tuy chƣa có lực lƣợng điều tra chuyên trách nhƣng công tác điều tra của Viện kiểm sát đã đạt đƣợc những thành tích nổi bật.
Ngay từ giai đoạn đầu khi mới thành lập 12 ngành Kiểm sát, hoạt động điều tra của Viện kiểm sát đã thể hiện rõ vị trí quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Sau khi BLTTHS đầu tiên của nƣớc ta đƣợc ban hành năm 1988, ngày 04.1989, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, ngay tại Điều 1 của Pháp lệnh này đã quy định rõ: CQĐT của VKSND là một trong hệ thống các CQĐT của nƣớc ta. Giai đoạn này CQĐT VKSND đƣợc tổ chức ở hai cấp: Cục điều tra của VKSNDTC (đƣợc thành lập trên cơ sở Vụ điều tra thẩm cứu) và có 36 phòng điều tra đặt ở các VKS cấp tỉnh, thành phố. Viện kiểm sát quân sự có Phòng điều tra và 18 Ban điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
Ở giai đoạn này, CQĐT VKSND đã phát huy và thể hiện rất tốt vai trò của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đã phát hiện, điều tra, xử lý đƣợc một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật. Từ năm 2003 cho đến nay thì CQĐT của Viện kiểm sát chỉ tổ chức ở VKSNDTC. So với quy định của BLTTHS năm 1988 thì cơ cấu, tổ chức của CQĐT của VKSND đã thu hẹp hơn rất nhiều, tuy nhiên CQĐT của VKSND vẫn khẳng định đƣợc vị trí của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng nhƣ vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách tƣ pháp, hƣớng đến một nền tƣ pháp trong sạch vững mạnh. Thông qua các hoạt động thực tiễn từ khi thành lập cho đến nay, có thể thấy CQĐT của VKSNDTC đã khẳng định đƣợc ví trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng nhƣ trong công cuộc xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh với tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; gắn công tố với hoạt động điều tra”[14].
13 Từ những phân tích về vị trí, vai trò của CQĐT VKSND ở trên, tác giả luận văn đƣa ra khái niệm thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND nhƣ sau: Thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ trong việc xác định, làm rõ mọi tình tiết của vụ án làm cơ sở truy tố, xét xử người phạm tội trong phạm vi, giới hạn của pháp luật. Căn cứ xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự trong BLTTHS năm 2015 đƣợc quy định tại Điều 163. Theo đó, thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự của CQĐT căn cứ vào 03 nguyên tắc sau: (1) Nguyên tắc thứ nhất là, thẩm quyền điều tra tuân theo hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; CQĐT VKSNDTC; CQĐT của Viện kiểm sát quân sự Trung ƣơng. - CQĐT trong Quân đội nhân dân điều tra các loại tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự (Khoản 2 Điều 163 BLTTHS năm 2015).