Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1.1 Khái niệm tội cướp tài sản theo luật hình sự Việt Nam. Theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt của hành vi cướp tài sản là tài sản của Nhà nước, của tổ chức, tài sản của công dân. Thực tế cho thấy tài sản đã bị chiếm đoạt trong tội cướp thường là vật, tiền hoặc giấy tờ trị giá được bằng tiền, còn quyền tài sản hầu như chưa thấy xảy ra hoặc khó có thể là đối tượng chiếm đoạt của tội này. Đối với tài sản là vật thì thông thường bao giờ cũng là động sản (như tiền, vàng, xe máy…) cũng là đối tượng của tội cướp tài sản.
Chiếm đoạt tài sản của người làm của mình, bằng cách dựa dùng vũ lực, quyền uy để lấy tài sản của người khác có chủ đích. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, tội cướp tài sản có tính chất chiếm đoạt là tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Trong đó, “Chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của người khác vào phạm vi sở hữu của mình”. Do đó, việc nghiên cứu về yếu tố chiếm đoạt trong tội xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vụ án có liên quan đến tội cướp tài sản.
Theo luật hình sự Việt Nam, tội cướp tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được quy định tại Điều 168 chương XVI thuộc các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm năm 2015. Dù được quy định và xét xử sớm nhưng về lý luận và thực tiễn vẫn còn có sự nhận thức khác nhau về hành vi khách quan của tội phạm này được quy định trong luật. Cơ quan có thẩm quyền cũng chưa kịp thời ban hành văn bản giải thích quy định của luật. Nên đã có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định của luật, nhất là đối với những người làm công tác áp dụng pháp luật trong các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn thiếu chính xác và không 7 thống nhất và làm giảm chất lượng xét xử, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội cướp tài sản.
Theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản…” [22, tr. Quy định trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau: 1/ “làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được hoặc làm tê liệt ý chí chống cự hay khả năng chống cự của người bị tấn công để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản” là dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả các hành vi khách quan được quy định trong điều luật; hay là 2/ hành vi “làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” chỉ là kết quả của hành vi dùng thủ đoạn khác. Theo chúng tôi, cách hiểu thứ hai hợp lý hơn. Bởi vì, không thể lấy năng lực, ý chí của nạn nhân làm dấu hiệu định tội đối với hành vi của người phạm tội.
Hành vi dùng dao đe dọa cụ già làm tê liệt ý chí để chiếm đoạt tài sản hay hành vi dùng dao de dọa võ sư nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng bị võ sư chống trả (không bị tê liệt ý chí) đều cấu thành tội cướp tài sản. Theo quy định của BLHS thì: - Đối với hành vi “dùng vũ lực” là việc dùng sức mạnh thể chất được hiểu là việc dùng sức mạnh thể chất tác động đến nạn nhân như đấm, đá, bóp cổ hoặc dùng dao chém, sung bắn…, - Đối với hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngày tức khắc” đó là hành vi cụ thể của người phạm tội biểu hiện cho người bị tấn công hiểu rằng người phạm tội có thể sử dụng vũ lực (như bắn, chém …) ngay tức khắc nếu người bị tấn công có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. 8 - Đối với “hành vi khác” làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự, được hiểu là hành vi mà người phạm tội có thể thực hiện (như cho uống thuốc mê, chuốc rượu, rủ rê sử dụng ma túy cho say…) với mục đích làm cho người bị tấn công không thể kháng cự để chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm của dạng hành vi này, người phạm tội không tác động bằng sức mạnh vật chất vào người bị tấn công mà dùng thủ đoạn tinh vi để tác động vào cơ thể, tinh thần của người bị hại loại bỏ ý chí chống cự và được quy định là dạng hành vi khách quan thứ ba của tội cướp tài sản [32, tr.
Quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 thường được hiểu là tội cướp tài sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; còn tài sản đã chiếm đoạt được hay chưa không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này và cũng không phải là dấu hiệu để xác định thời điểm hoàn thành của tội cướp tài sản. Tức là, hậu quả có xảy ra hay không (có lấy được tài sản hay không), giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà chỉ có ý nghĩa về định khung hình phạt. Vì vậy, trong khoa học luật hình sự có nhiều ý kiến cho rằng “Cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức, vì vậy không có giai đoạn phạm tội chưa đạt”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử không hoàn toàn thống nhất với quan điểm khoa học đó.
Đó là trong dạng hành vi thứ 3, hành vi dùng thủ đoạn khác, nhưng người bị tấn công không lâm vào tình trạng không chống cự được, vì vậy không chiếm đoạt được tài sản bị xử lý về tội cướp tài sản (chưa đạt) Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì tội cướp tài sản có ba dạng hành vi khách quan, đó là: 9 1) Hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản; 2) Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản; 3) Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Theo quy định của Bộ luật hình sự và qua nghiên cứu các giáo trình, tài liệu về tội cướp tài sản, tác giả nhận thức về tội cướp tài sản như sau: “Tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng cách dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản”. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản. Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặt thù cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự.
Như vậy, cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lý của một loại tội phạm cụ thể, mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự. Về mặt cấu trúc của tội phạm có đặc điểm chung là đều có bốn yếu tố cấu thành tội phạm tồn tại không thể tách rời nhau nhưng có thể phân chia được. Do vậy, có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau. Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam là: Khách thể, khách quan, mặt chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm.
Tội cướp tài sản nếu thiếu một trong bốn yếu tố trên thì sẽ không thể cấu thành tội phạm và đương nhiên sẽ không bị pháp luật trừng trị. Đối với tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), cũng bao hàm các yếu tố này. Khách thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm là quyền và lợi ích được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Khách thể của tội phạm nói chung được nêu khá bao quát, rõ ràng tại Điều 1 và khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), đó là chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, chế độ 10 xã hội chủ nghĩa, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Đối với các tội xâm phạm sở hữu, đối tượng tác động là tài sản như vật có thực, tiền, giấy tờ có trị giá bằng tiền và quyền về tài sản và giá trị đó được đầu tư sức lao động của con người. Đối tượng là tài sản đang nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu của người khác. Khách thể của tội cướp tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người.
Đối tượng tác động của tội cướp tài sản là tài sản bao gồm vật, tiền và con người. Do đó, tội cướp tài sản là tội phạm cùng một lúc xâm phạm hai khách thể chính, nhưng khách thể bị xâm phạm trước là tính mạng, sức khỏe thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản (dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản). Nếu không xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe thì người phạm tội cướp tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được. Đây cũng là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản, nếu chỉ xâm phạm đến một trong hai khách thể xã hội thì chưa phản ảnh đầy đủ bản chất của tội cướp tài sản.