phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý thực hiện pháp luật về chứng thực; Chƣơng 2: Tình hình thực hiện pháp luật về chứng thực ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về chứng thực từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về chứng thực 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về chứng thực - Khái niệm chứng thực Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ đến nay, chƣa có văn bản pháp luật nào đƣa ra một khái niệm rõ ràng, bao quát đƣợc đúng bản chất của hoạt động chứng thực, mà chủ yếu đƣa ra khái niệm chứng thực của một việc cụ thể nào đó.
Chẳng hạn, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 quy định, “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”. Tiếp đó, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP bổ sung thêm quy định mới về khái niệm “chứng thực hợp đồng, giao dịch” [11, Điều 2, Khoản 2,3,4]. Từ cách hiểu về từng hoạt động chứng thực nêu trên, có thể khái quát, chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện 10 e pháp lý, thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính Trên thực tế, hoạt động chứng thực có những điểm giống với hoạt động công chứng nên đôi khi có sự nhầm lẫn giữa hai hoạt động này. Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nƣớc ngoài hoặc từ tiếng nƣớc ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Do đó, công chứng giống chứng thực ở những điểm nhƣ: đều là hoạt động dịch vụ công, đƣợc nhà nƣớc uỷ quyền và do những ngƣời có thẩm quyền theo quy định pháp luật thực hiện; Ngƣời yêu cầu công chứng, chứng thực đều phải đóng phí theo khung quy định của pháp luật; Hợp đồng, giao dịch đƣợc công chứng hoặc đƣợc chứng thực đều có giá trị pháp lý và ràng buộc trách nhiệm đối với các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; Việc công chứng, chứng thực phải tuân theo trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, công chứng và chứng thực có những điểm khác nhau gồm: - Về bản chất: Công chứng là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn chứng thực là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. - Về cơ quan thực hiện: Đối với công chứng thì cơ quan thực hiện là phòng công chứng, văn phòng công chứng; còn đối với chứng thực thì đó là phòng tƣ pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. - Về ngƣời có thẩm quyền: Đối với công chứng thì ngƣời có thẩm quyền là công chứng viên; đối với chứng thực thì đó là trƣởng phòng, phó phòng tƣ pháp cấp huyện; chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
11 e - Về trách nhiệm của ngƣời thực hiện: Đối với công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn đối với chứng thực thì ngƣời yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ; ngƣời thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. - Về giá trị pháp lý văn bản đƣợc công chứng, chứng thực: Đối với công chứng thì hợp đồng, giao dịch đƣợc công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch đƣợc công chứng không phải chứng minh, trừ trƣờng hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Còn đối với chứng thực thì hợp đồng, giao dịch đƣợc chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. - Về trách nhiệm bồi thƣờng: Đối với công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thƣờng cho ngƣời yêu cầu công chứng; công chứng viên phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thƣờng.
Còn đối với chứng thực thì ngƣời thực hiện chứng thực gây thiệt hại thì sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thƣờng theo quy định của pháp luật. - Về pháp luật điều chỉnh: Đối với công chứng thì pháp luật điều chỉnh là Luật Công chứng năm 2014; còn đối với chứng thực thì đó là Nghị định 23/2015/NĐ-CP. Trên địa bàn quận, hoạt động chứng thực đƣợc thực hiện ở Phòng Tƣ pháp quận, UBND phƣờng, Văn phòng Công chứng. - Khái niệm pháp luật về chứng thực Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, đƣợc áp dụng lặp 12 e đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nƣớc hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền quy định trong luật này ban hành và đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo thực hiện [31, Điều 3] Luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật tức là pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực.
Từ đó, trong phạm vi luận văn này, pháp luật về chứng thực đƣợc hiểu là các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do Nhà nước ban hành để điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính… Các quy phạm pháp luật về chứng thực của nƣớc ta hiện nay đƣợc ghi nhận trong rất nhiều văn bản khác nhau của các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền, liên quan đến tất cả các mặt về chứng thực. Tuy nhiên, văn bản điều chỉnh một cách tập trung, thống nhất các vấn đề về chứng thực hiện nay là Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ; đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý và tiền đề quan trọng để đƣa hoạt động chứng thực vào nền nếp, góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. - Khái niệm thực hiện pháp luật về chứng thực Khi đặt ra các quy phạm pháp luật, nhà nƣớc mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân và sự tiến bộ xã hội. Mục đích đó chỉ đạt đƣợc khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế.
Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật. Theo Giáo trình Lý luận nhà nƣớc và pháp luật của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, "Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm 13 e hiện thức hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống"[44, tr. Nhƣ vậy, thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) đƣợc tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vƣợt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định. Dƣới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó đƣợc tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật.
Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của tất cả các tổ chức và cá nhân; mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Đối với nhà nƣớc, thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc, quản lý và bảo vệ xã hội; còn đối với các tổ chức phi nhà nƣớc hoặc các cá nhân, thực hiện pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ. Nhƣ vậy, thực hiện pháp luật về chứng thực được hiểu là hoạt động có mục đích của các chủ thể được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính… nhằm làm cho các quy định của pháp luật về chứng thực trở thành những hành vi trong thực tế nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Đặc điểm thực hiện pháp luật về chứng thực Thực hiện pháp luật về chứng thực là một hoạt động thực hiện pháp luật chung nên nó có đặc điểm chung của hoạt động thực hiện pháp luật gồm: Thứ nhất, thực hiện pháp luật về chứng thực bao giờ cũng thông qua những hành vi cụ thể của con ngƣời.