CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về trật tự, an toàn xã hội “Trật tự, an toàn xã hội” (TTATXH) là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội và chúng được đề cập ở nhiều văn bản quản lý, ở nhiều tài liệu, sách, bài viết,… Thuật ngữ TTATXH chính thức được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “trật tự trị an” từ những năm 1970 đến nay. Đúng vậy, Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1976) đã đề cập: Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và TTATXH.
Tại Điều 45 của Hiến pháp năm 1992 và Điều 46 của Hiến pháp năm 2013 cũng đã đề cập TTATXH. Tác giả Nguyễn Lân, trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau. An toàn là yên ổn trọn vẹn, yên ổn hẳn, không sợ tai nạn. 16 và 704] Theo đó, trật tự xã hội là trạng thái xã hội được hình thành có trật tự và được điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở khu vực công cộng buộc các thành phần xã hội và mọi người phải tuân theo.
Trật tự xã hội là trạng thái đối lập với rối loạn xã hội (hoạt động của các thành phần của cơ cấu xã hội bất ổn với các hành động của các chủ thể xã hội thường mâu thuẩn xung đột với nhau bởi có sự khác biệt lợi ích hoặc thiếu hụt các giá trị, chuẩn mực xã hội để đối chiếu). Trật tự xã hội chỉ có thể có được khi tất cả các thành phần trong xã hội thực hiện tốt chức năng của mình và các cơ quan quyền lực thực hiện tốt chức năng kiểm soát xã hội, duy trì được tính chuẩn mực của các hành động xã hội, đảm bảo cho môi trường xã hội ổn định và trật tự. Nói cách khác, trật tự xã hội chính là sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần xã hội trong cấu trúc xã hội, nó là thước đo về tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực 9 của các hành động xã hội nhằm làm cho hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, duy trì được tính ổn định trong sự phát triển xã hội. Cơ chế bảo đảm tính trật tự xã hội có hiệu quả là các thiết chế xã hội vận hành kiểm soát được sự tác động của môi trường các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Ở khía cạnh này, trật tự xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng của TTATXH, có nội dung bao gồm khung quy định về lĩnh vực trật tự xã hội. Chẳng hạn, đó là sự tuân thủ các quy định của pháp luật và văn hóa phong tục, tập quán sinh hoạt được cộng đồng người thừa nhận; đó còn là tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người… Đối với an toàn xã hội, để một xã hội phát triển bình yên và đạt được mức độ tương đối “an toàn” cho điều kiện sinh tồn của mọi cá nhân trong xã hội đó, điểm cốt lõi quan trọng là phải đáp ứng đủ các nhu cầu cho sự tồn tại của họ, đó là quyền được sống, được thụ hưởng ngay cả khi đang ở trong độ tuổi lao động hay khi không còn sức khỏe để lao động. Có thể hiểu, an toàn xã hội dùng để chỉ trạng thái vận động và phát triển của xã hội trong một môi trường ổn định và quản lý được những mâu thuẫn, rủi ro bất ổn nảy sinh ngay trong quá trình xã hội đó. Từ cơ sở tiếp cận này cho thấy, tính chỉnh thể của xã hội chỉ có thể đạt được khi có sự ổn định, an toàn và hài hòa trong cấu trúc xã hội, tạo nên một trật tự xã hội nhất định.
Như vậy, TTATXH tạo dựng cho hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, hoạt động có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố. Nói cách khác, TTATXH được xác định là trạng thái duy trì các hoạt động của xã hội đi vào ổn định, an toàn, có trật tự, kỷ cương. Bởi trật tự, kỷ cương xã hội được xác lập trên cơ sở của các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (hệ thống các quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức, văn hóa truyền thống được cộng đồng người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ; mà qua đó mọi người có được cuộc sống yên ổn. Về thực chất, các hành vi vi phạm TTATXH chính là những hành vi gây ra làm sai lệch chuẩn mực xã hội.
Nếu một khi xã hội không có sự trật tự, kỷ cương, an toàn thì sẽ rơi vào trạng thái xã hội rối loạn/ hỗn loạn, mâu thuẩn xung 10 đột bùng phát, đời sống xã hội trong trạng thái không yên ổn, người dân sẽ luôn âu lo, bất an. Đúng vậy, xã hội chỉ có thể ổn định và phát triển khi và chỉ khi phải chú trọng giữ gìn TTATXH. Trong Từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an (năm 2000), thuộc Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Bộ Công an cũng xác định: TTATXH là tình trạng xã hội có tổ chức, có kỷ luật, mọi người được sống yên vui lành mạnh trong xã hội theo quy định bằng các luật lệ của nhà nước, quy phạm của đạo đức, quy phạm của cuộc sống cộng đồng và thuần phong mỹ tục. Còn theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam (năm 2005): TTATXH là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định.
Từ những phân tích trên và kế thừa các quan niệm đã nêu, TTATXH được hiểu là trạng thái duy trì sự vận động của xã hội ổn định, hài hòa, có trật tự, kỷ cương, được xác lập trên cơ sở hệ thống các quy định của pháp luật, các quy tắc, giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, mà từ đó mọi người dân có cuộc sống bình yên, môi trường an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm này, có thể xác định nội hàm của TTATXH được thể hiện qua các dấu hiệu cơ bản: (1) Đó là một trạng thái duy trì trật tự, kỷ cương, nề nếp, sự ổn định, an toàn và yên bình của xã hội; (2) Trạng thái xã hội đó chỉ đạt đến sự ổn định và bền vững khi và chỉ khi có sự tự giác của mọi người tuân thủ quy phạm pháp luật và đạo đức trong xã hội; (3) TTATXH là kết quả tổng hợp của công tác quản lý, gìn giữ, bảo vệ trật tự an toàn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, có sự đóng góp quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Khái niệm về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội Quản lý nhà nước ở nghĩa rộng, đó là các hoạt động của cơ quan nhà nước về lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Còn quản lý nhà nước ở nghĩa hẹp, đó là hoạt động 11 chấp hành và điều hành được cấu thành bởi các yếu tố có tính tổ chức để thực hiện việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, được đảm bảo thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước [24]. Trong khuôn khổ luận văn này chủ yếu tiếp cận nghiên cứu quản lý nhà nước ở nghĩa hẹp, mà cụ thể là quản lý nhà nước về TTATXH. Đối với TTATXH dưới góc nhìn quản lý lấy mục đích: an ninh xã hội được bảo đảm; công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả; trật tự, an toàn giao thông luôn bảo đảm thông suốt; trật tự công cộng được giữ vững; tệ nạn xã hội được kiềm chế [7; tr. Nên công tác bảo đảm TTATXH gồm nhiều hoạt động: phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội; giữ gìn trật tự công cộng; .v… Trong các hoạt động đó, nổi lên các nội dung chủ yếu: quản lý hành chính Nhà nước; giữ gìn trật tự nơi công cộng; giữ gìn trật tự giao thông; đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội.
Quản lý Nhà nước về TTATXH trước hết nhằm đem lại sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội và cá nhân, bảo vệ trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân, đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội.TS Nguyễn Xuân Yêm đã đưa ra quan niệm: Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, TTATXH là hoạt động chấp hành và điều hành các cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà nước trong lĩnh vực an ninh quốc gia, TTATXH.[44] Về thực chất, quản lý Nhà nước về TTATXH gắn liền với một số đặc điểm chủ yếu, đó là: (1) Một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước) để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người liên quan đến TTATXH; (2) Sự tác động có tổ chức, có hệ thống theo ý chí của Nhà nước bằng công cụ pháp luật, các thiết chế có chức năng để điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả đối với các quan hệ xã hội và hành vi xã hội, tạo môi trường bảo đảm vững chắc cho một nền TTATXH; (3) Chủ thể quản lý là Nhà nước, trong đó chủ thể trực tiếp 12 là lực lượng nòng cốt Công an nhân dân để bảo đảm TTATXH; (4) Đối tượng quản lý Nhà nước về TTATXH là mọi cơ quan, tổ chức, các nhóm xã hội, cộng đồng dân cư, các cá nhân tham gia những mối quan hệ liên quan đến TTATXH.