CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Vai trò, nguyên tắc quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố 1. Một số khái niệm và thuật ngữ 1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Khoản 3 Điều 3 Luật Đất đai 2013 ghi rõ “ Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.” Quy hoạch là quá trình sắp xếp, bố trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra.
Về mặt thuật ngữ, “Quy Hoạch” có nghĩa là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, sắp xếp, tổ chức… còn “Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, mảnh đất, miếng đất…) có vị trí, hình thể, diện tích và những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính.), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định. Về mặt bản chất cần xác định dựa trên quan điểm nhận thức: Đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai và việc Luan van 8 tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 03 tính chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp chế.
Trong đó : - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai. - Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính toán và thống kê diện tích đất đai, phân chia khoanh thửa nhằm sử dụng đất một cách hợp lý. - Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo phương án quy hoạch sử dụng đất. Kết quả của quy hoạch sử dụng đất là sự thay đổi trong hoạt động sử dụng đất, trong đó bao gồm cả việc phân chia hoặc sát nhập những diện tích đất đai nhất định, đó là sự thay đổi đặc điểm hình học của đất đai, thay đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi về quyền sở hữu và các quyền, nghĩa vụ tương đương.
Hệ thống quy hoạch sử dụng đất của Việt Nam hiện nay gồm: - Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; - Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; - Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; - Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng; - Quy hoạch sử dụng đất an ninh. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất Nước ta hiện đang có ba hệ thống quy hoạch gồm: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch không gian và Quy hoạch sử dụng đất. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất là loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính dài hạn, tính tổng hợp, tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô, tính chính sách và tính khả biến. Luan van 9 - Tính lịch sử xã hội: Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trong Quy hoạch sử dụng đất đai luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế…) cũng như quan hệ giữa người với người (Xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) và nó thể hiện đồng thời hai yếu tố: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ sản xuất. Do vậy, quy hoạch sử dụng đất luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất. Tính chất lịch sử của quy hoạch sử dụng đất xác nhận vai trò lịch sử của nó trong từng thời kỳ xây dựng và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội, thể hiện ở mục đích, yêu cầu, nội dung và sự hoàn thiện của phương án quy hoạch sử dụng đất.
- Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của Quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: + Thứ nhất: Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ.tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế. + Thứ hai: Quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: Môi trường, sinh thái, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, sản xuất công nông nghiệp, dân số… Với đặc điểm này, quy hoạch sử dụng đất lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế luôn phát triển, đạt tốc độ cao và ổn định. - Tính dài hạn: Điều 37 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm”. Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc Luan van 10 vào dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học và công nghệ liên quan đến việc sử dụng đất đai, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai để phát triển lâu dài kinh tế xã hội. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. - Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính dài hạn quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất với tính đại thể chứ không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi. Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài, chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch thường là không cụ thể và chi tiết như trong kế hoạch sử dụng đất năm năm và kế hoạch sử dụng đất hàng năm chính vì thế quy hoạch sử dụng đất mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ mô.
Các chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa quy hoạch càng ổn định. - Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội. Khi xây dựng phương án sử dụng đất phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái. - Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất định.
Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình Luan van 11 hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp thì việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chu kỳ “Quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - Tiếp tục thực hiện.” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao. Khái niệm quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích và điều chỉnh bằng quyền lực của Nhà nước tới các đối tượng bị quản lý thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính nhằm đạt được mục tiêu do chủ thể quản lý nhà nước đặt ra.
Quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất là một lĩnh vực của quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng các biện pháp, công cụ thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất và những người thực hiện quy hoạch sử dụng đất nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một vùng, một địa phương và cả một quốc gia. Vai trò của quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố Một là, xác định các ưu tiên trong phát triển không gian địa phương cơ sở và nhận diện các khu vực địa lý chủ yếu cần ưu tiên phát triển để lập quy hoạch sử dụng đất mang tính khả thi cao nhất. Với vai trò là cơ quan trực tiếp quản lý đất đai trong phạm vi được phân cấp, chính quyền cấp huyện nắm trong tay những công cụ có thể điều chỉnh các quan hệ đất đai, đảm bảo cho các quan hệ này vận động phù hợp với quy luật, với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong từng thời kỳ.