phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về quy hoạch đô thị tại thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý nhà nƣớc đối với quy hoạch đô thị tại thành phố Hải Phòng 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬNQUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Các định nghĩa khái niệm về quy hoạch đô thị 1. Các khái niệm về đô thị, quy hoạch đô thị và định nghĩa về nâng cao chất lượng a) Khái niệm về đô thị. Theo Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009 - Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
- Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai theo định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chí của đô thị theo quy định của pháp luật. - Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở. - Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị. - Nhiệm vụ quy hoạch là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị.
- Đồ án quy hoạch đô thị là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị. 6 - Quy hoạch chung là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững. - Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung. - Quy hoạch chi tiết là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất; bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hoá nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung.
* Các loại đô thị Theo nghị định số: 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị: - Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chuẩn của đô thị theo quy định của pháp luật. - Dân số đô thị là dân số thuộc ranh giới hành chính của đô thị, bao gồm: nội thành, ngoại thành, nội thị, ngoại thị và thị trấn. - Hệ thống công trình hạ tầng đô thị được xây dựng đồng bộ là khi hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đã được đầu tư xây dựng đạt 70% yêu cầu của đồ án quy hoạch theo từng giai đoạn; đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác có liên quan. - Hệ thống công trình hạ tầng đô thị được xây dựng hoàn chỉnh là khi hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đã được đầu tư xây dựng đạt yêu cầu của đồ án quy hoạch theo từng giai đoạn; đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác có liên quan.
7 - Đô thị có tính chất đặc thù là những đô thị có những giá trị đặc biệt về di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể), lịch sử, thiên nhiên và du lịch đã được công nhận cấp quốc gia và quốc tế. - Theo phân loại đô thị được chia làm các loại: Đô thị đặc biệt, đô thị loại I cho đến loại V; Hải phòng hiện có đô thị loại 1 loại IV và loại V - Đô thị loại I + Chức năng đô thị Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh. + Quy mô dân số đô thị Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên.
+ Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên; Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên. + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động. - Đô thị loại IV + Chức năng đô thị. 8 Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh.
Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh. + Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên. + Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên. + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại V + Chức năng đô thị Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã. + Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên. + Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên. + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động.
b) Khái niệm về quy hoạch đô thị * Khái niệm chung về công tác quy hoạch đô thị - Đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, phần lớn là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách lối sống thành thị, lối sống công nghiệp. Theo khái niệm đô thị phát triển bền vững và sinh thái đô thị thì một thực thể đô thị được tạo ra bởi nhiều thành phần, chức năng khác nhau nhưng lại quan hệ chặt chẽ trong một tổng thể thống nhất, đan xen rất mật thiết hữu cơ với nhau. Hơn thế nữa, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ đó thì không đưa lại hiệu quả hoạt động của mỗi một chức năng mà còn phá vỡ tổng thể các thành phần chức năng khác của đô thị. Đô thị là kết quả 9 (thành quả) chung của toàn dân, của xã hội mà chúng ta cần phải kế thừa, bảo vệ và phát triển.
Muốn đô thị phát triển hợp lý và bền vững cần phải có quy hoạch và quản lý quy hoạch tốt, hiệu quả. Quy hoạch là công cụ chủ yếu để quản lý xây dựng đô thị. Bởi vậy theo luật quy hoạch đô thị “Tổ chức, cá nhân khi thực hiện các chương trình, kế hoạch đầu tư xây dựng phát triển đô thị, quy hoạch chuyên ngành trong phạm vi đô thị, kế hoạch sử dụng đất đô thị, quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trong đô thị, thực hiện quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị hoặc thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến quy hoạch đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị đã được phê duyệt và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị”. Quy hoạch đô thị là công tác liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực.
Căn cứ vào dự báo phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, các chuyên gia quy hoạch hoạch định ra tương lai phát triển của toàn đô thị, muốn vậy cần trả lời các câu hỏi như: - Chúng ta cố gắng để đặt được những gì trong quá trình tạo đựng và phát triển đô thị trong tương lai. - Chúng ta muốn đô thị phát triển như thế nào trong 10, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. - Cuộc sống trong tương lai tại đô thị sẽ như thế nào. Một đồ án quy hoạch đô thị bao gồm phần tổ chức không gian kiến trúc và cảnh quan (quy hoạch sử dụng đất và không gian kiến trúc) và quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật ( Giao thông; cấp điện; cấp nước; thoát nước; chất thải rắn; nghĩa trang.) Theo luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 chia ra các loại quy hoạch như sau: - Quy hoạch vùng 10 - Quy hoạch đô thị - Quy hoạch khu chức năng đặc thù - Quy hoạch nông thôn.
* Quy hoạch đô thị. Theo luật quy hoạch đô thị số: 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009 gồm các loại quy hoạch sau - Quy hoạch chung được lập cho thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã , thị trấn và đô thị mới; - Quy hoạch phân khu được lập cho các khu vực trong thành phố, thị xã và đô thị mới; - Quy hoạch chi tiết được lập cho khu vực theo yêu cầu phát triển, quản lý đô thị hoặc nhu cầu đầu tư xây dựng.