đặt vấn đề DN hoặc các SBU của nó phải cạnh tranh hoặc hợp tác ra sao trong một ngành kinh doanh cụ thể [Thomas Wheelen, 2000]. Về loại hình, chiến lược cạnh tranh có thể bao gồm các chiến lược tích hợp về phía trước và phía sau, đa dạng hóa thu hoạch nhanh, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm sản lượng, tiết chế đầu tư, rút khỏi thị trường, cổ phần hóa…[Fred David, 2001]. Với khái niệm đa diện như trên, việc hình thành và phát triển chiến lược cạnh tranh chính là đường nét mới của quản trị DN nước ta trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, là nội dung thực chất của quản trị kinh doanh, quản trị DN. Trong pham vi của luận văn này, học viên thống nhất tiếp cận khái niệm chiến lược cạnh tranh cấp độ sản phẩm được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược của sản phẩm trên thị trường mục tiêu nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của công ty.
Một số lý thuyết liên quan 1. Lý thuyết giá trị cung ứng cho khách hàng Cách đây hơn 40 năm, P. Drucker đã đưa ra một kết luận hết sức sáng suốt là, nhiệm vụ hàng đầu của mỗi DN là "tạo ra khách hàng", theo tiếp cận của KDTM hiện đại, điều đó có nghĩa là DN phải tạo ra, gìn giữ và phát triển thị trường của nó. Vấn đề đặt ra tiếp theo là những khách hàng của các DN của thế kỷ XXI khác nhiều so với khách hàng ở thời kỳ mà P.
Drucker đưa ra Luan van 10 kết luận trên. Để trả lời vấn đề này cần xuất phát từ lý thuyết TM hiện đại rằng, khi khách hàng lựa chọn, được hấp dẫn và quyết định mua không phải là các sản phẩm vật lý thuần túy, mà họ quyết định, họ tin tưởng, họ trung thành với một sản phẩm hay một thương hiệu bởi với nó DN cung ứng được giá trị gia tăng "added value" cho khách hàng với cùng một mức thỏa mãn nhu cầu tương đương. Ở đây giá trị gia tăng cung ứng cho khách hàng là tỷ lệ giữa tổng giá trị khách hàng nhận được và tổng chi phí của khách hàng, trong đó tổng giá trị khách hàng là toàn bộ những lợi ích mà khách hàng kì vọng từ một sản phẩm/dịch vụ xác định và bao gồm các lợi ích sản phẩm, dịch vụ, nhân lực, hình ảnh; tổng chi phí khách hàng mà khách hàng kì vọng phải gánh chịu để cân nhắc, mua, sử dụng và loại bỏ một sản phẩm xác định và bao gồm các chi phí bằng tiền, thời gian, năng lượng và tâm lí. Giá trị sản phẩm Giá trị dịch vụ Tổng giá trị Giá trị nhân lực khách hàng Giá trị hình ảnh Giá trị gia tăng cung ứng Chi phí tiền khách hàng Chi phí thời gian Tổng chi phí Chi phí năng lượng khách hàng Chi phí tâm lí Hình 1.2: Các chỉ số xác định giá trị cung ứng khách hàng Bản chất của cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc / và mới (khác biệt) hơn.
Có không ít DN nhầm tưởng cạnh tranh đơn thuần là loại trừ đối thủ cạnh tranh trên thị trường nên sa vào việc cạnh tranh không lành mạnh. Cũng với tư duy đó cạnh tranh không phải chỉ là những động thái của tình huống mà là cả một tiến trình liên tục không ngừng. Khi mà các DN Luan van 11 đều phải ganh đua nhau để phục vụ tốt nhất khách hàng thì có nghĩa là không có một giá trị gia tăng nào là vĩnh viễn mà luôn luôn có thêm những giá trị mới. Nói cách khác cạnh tranh giữa các DN là để phục vụ khách hàng tốt hơn, DN nào hài lòng với vị thế đang có sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải nhanh chóng trong một thế giới càng ngày cành biến động.
Trong tiến trình đào thải đó DN cần phải phát triển chiến lược đổi mới / tư duy đổi mới để triển khai một qui trình vận động liên hoàn trong việc tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh. Năng lực cốt lõi Với vai trò là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh, năng lực cốt lõi chỉ ra khả năng cạnh tranh và phản ánh những đặc trưng rất riêng có của mỗi một DN. Thông qua quá trình tổ chức và học hỏi phương pháp để có thể khai thác tối đa các nguồn lực và tiềm năng của công ty, dần dần các doanh nghiệp sẽ bộc lộ ra những năng lực cạnh tranh cốt lõi của bản thân. Năng lực cạnh tranh cốt lõi “chính là yếu tố cần thiết để tạo nên tính độc đáo của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn yêu cầu của khách hàng trong khoảng một thời gian dài”.
Nhưng không phải là tất cảc các nguồn lực và tiềm năng của các doanh nghiệp đều là những tài sản có giá trị chiến lược của doanh nghiệp - được coi là những tài sản có giá trị cạnh tranh và tiềm năng để trở thành lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có những nguồn lực và tiềm năng có thể không đem lại lợi nhuận cho bản thân các công ty khi chúng tồn tại trong một môi trường mà sức cạnh tranh của doanh nghiệp đó còn yếu kém so với các doanh nghiệp đối thủ khác. Chính vì thế có những nguồn lực và tiềm năng lại cản trở sự phát triển của năng lực cạnh tranh cốt lõi. Các công ty mà không có đủ khả năng tài chính, ví dụ như để mua trang thiết bị hay thuê những công nhân lành nghề để sản xuất ra những mặt hàng tiêu dùng thiết thực, thì nguồn vốn (một trong những nguồn lực hữu hình) sẽ là điểm yếu của công ty.
Khi đã hiểu sâu Luan van 12 rõ về các nguồn lực và tiềm năng của công ty mình thì những nguời quản trị chiến lược phải tìm ra những cơ hội kinh doanh ở môi trường bên ngoài mà có thể tận dụng tối đa các tiềm năng, tránh việc sử dụng những yếu tố kém sức cạnh tranh. Có 4 tiêu chuẩn đặc trưng để xác định những nguồn lực và khả năng sẽ trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của tổ chức. Do các loại năng lực được chỉ ra trong bảng 1.1 đã thoả mãn 4 tiêu chuẩn đặc trưng của lợi thế cạnh tranh nên chúng là năng lực cạnh tranh cốt lõi.1: Các tiêu chuẩn đặc trưng của năng lực cốt lõi Năng lực có giá trị Giúp một doanh nghiệp trung hoà được các mối đe dọa cũng như cơ hội từ bên ngoài Năng lực có tính Không có nhiều đối thủ khác sở hữu được khan hiếm Năng lực khó làm giả Xây dựng một văn hoá tổ chức hay nhãn hiệu quan trọng và duy nhất; Không bộc lộ nguồn gốc cũng như cách sử dụng các năng lực cốt lõi; mối quan hệ giữa các cá nhân, sự tin tưởng và tình bằng hữu giữa các nhà quản trị, nhà cung cấp và khách hàng. Năng lực không thể Không tồn tại một chiến lược tương tự thay thế (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Những năng lực mà có giá trị, hiếm, gây tốn kém khi làm giả và không thể thay thế được là những tiềm năng quan trọng và là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh.
Những tiềm năng mà không thoả mãn các tiêu chuẩn trên thì không được xem là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Vì vậy mỗi năng lực cạnh tranh cốt lõi đều có thể được coi là một năng lực, nhưng tuy nhiên không phải mọi năng lực đều sẽ là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Luan van 13 Việc duy trì một lợi thế cạnh tranh chỉ đạt được khi mà những đối thủ cạnh tranh cố gắng học theo những điều hay từ chiến lược của một công ty nhưng không thành công hoặc họ cảm thấy khó có thể bắt chước bí quyết đó của công ty đó. Trong một vài thời kỳ, một công ty có thể có lợi thế cạnh tranh thông qua việc tận dụng những năng lực có giá trị, quý hiếm nhưng lại dễ làm theo.
Trong những trường hợp như thế, thời gian mà một công ty có thể hi vọng sẽ duy trì được lợi thế cạnh tranh này phụ thuộc vào việc đối thủ cạnh tranh của họ thành công trong việc bắt chước làm những hàng hoá, dịch vụ, qui trình sản xuất đó là nhanh hay chậm. Chỉ có bằng cách kết hợp hài hoà với 4 tiêu chuẩn trên thì các năng lực của doanh nghiệp mới có khả năng trở thành lợi thế cạnh tranh cá biệt. Chiến lược cạnh tranh dựa trên năng lực kinh doanh Ngay từ những năm đầu thập kỉ 90 thế kỉ XX, đứng trước những thách thức sẽ cạnh tranh ra sao trong bối cảnh địa thị trường đang bị đình đốn và trầm lắng, các DN thành công trong giai đoạn này đã tìm được câu trả lời trên 2 khía cạnh: Một là, DN phải tận tâm, tận lực để kiến tạo và giữ gìn các khách hàng được thỏa mãn. Điều quan trọng ở đây là sự phát hiện mới rằng các khách hàng được thỏa mãn không phải chỉ ở dạng thức và giá trị sản phẩm sử dụng của sản phẩm như vẫn quan niệm mà ẩn sâu bên trong sản phẩm đó là sự kết tinh lợi ích cốt lõi được chia sẻ của sản phẩm hỗn hợp gồm tính sẵn sàng để tiêu dùng của sản phẩm, dịch vụ kèm theo sản phẩm, bản sắc nhân sự chuyển giao sở hữu sản phẩm và hình ảnh giá trị thương hiệu sản phẩm đó, mà còn có sự có mặt đúng lúc, đúng thời cơ, đúng địa điểm, đúng loại hình tổ chức bán cho đúng khách hàng.
Không chỉ có lợi ích một chiều mà là tương quan (hiệu số, tỉ lệ) giữa những lợi ích trên với chi phí để sở hữu và thụ hưởng. Chúng gồm các chi phí tiền của, thời gian, sức lực và tâm lực để tìm kiếm mua và dùng sản phẩm đó. Cấu trúc và tương quan đó chính là nội hàm Luan van 14 của khái niệm giá trị cung ứng cho khách hàng và đó là lí do không phải là sản phẩm mà chính là giá trị mới là yếu tố kích cầu và thỏa mãn cầu thị trường của DN. Hai là, DN phải biết làm tương hợp ra sao với sự thay đổi thường xuyên của địa thị trường trên cả 2 mặt thời cơ và đe dọa, tính tương hợp này không phải bị động, theo sau và ở tầm tác nghiệp mà phải là chủ động, tiên khởi trên tầm chiến lược.