Tổng quan nghiên cứu

Tín ngưỡng truyền thống là thành tố cốt lõi phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và lịch sử thích ứng tự nhiên của cộng đồng cư dân ven biển. Huyện đảo Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang sở hữu vị trí chiến lược tại vùng biển Tây Nam với diện tích tự nhiên 27,85 km2, bao gồm 23 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 11 đảo có dân cư sinh sống với tỷ lệ người Kinh chiếm trên 98%. Dưới tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mức bình quân 14%/năm và mức thu nhập bình quân đầu người đạt 46 triệu đồng/người/năm, đời sống vật chất của ngư dân đã có sự thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và quá trình giao lưu văn hóa đang tạo ra những tác động phức tạp đối với việc bảo lưu các giá trị tinh thần cổ truyền.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình hình thành, phương thức thực hành và sự biến đổi của hệ thống tín ngưỡng dân gian trước áp lực hiện đại hóa tại huyện đảo Kiên Hải. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc nhận diện toàn diện các thực hành tâm linh bản địa, phân tích các giá trị văn hóa - xã hội bền vững, đồng thời chỉ ra những hạn chế, lệch lạc như nguy cơ thương mại hóa và mai một nghi lễ. Phạm vi khảo sát tập trung tại hai địa bàn trọng điểm là xã Hòn Tre (đảo Hòn Tre) và xã Lại Sơn (đảo Hòn Sơn), kéo dài từ cội nguồn định cư đến mốc thời gian năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hơn 5 thiết chế tín ngưỡng tiêu biểu, hỗ trợ địa phương bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế du lịch biển đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, đặc biệt nhấn mạnh nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng văn hóa. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) và lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural Ecology) để giải thích quá trình dung hợp niềm tin giữa các tộc người Kinh, Hoa, Khmer trong môi trường sinh tồn khắc nghiệt giữa biển khơi. Luận văn chuẩn hóa hệ thống 4 khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Tín ngưỡng truyền thống (theo quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016), Phúc thần biển cả (hệ thống thần linh bảo trợ ngư nghiệp), Thánh hóa nhân vật lịch sử (hiện tượng thần hóa anh hùng dân tộc trong tâm thức dân gian) và Không gian thiêng (hệ thống đình, đền, miếu, lăng vạn vùng hải đảo).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ tư liệu thư tịch lịch sử cổ điển như sách Gia Định thành thông chí (năm 1820), Hà Tiên địa phương chí (năm 1929) kết hợp với các văn bản lưu trữ địa phương và hồ sơ khảo sát thực tế. Tác giả đã tiến hành chọn mẫu phi ngẫu nhiên có chủ đích (Purposive Sampling) với cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 150 phiếu hỏi người dân và 25 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp các bậc cao niên trong Ban Quý tế, ngư dân trực tiếp đánh bắt xa bờ và cán bộ quản lý văn hóa tại xã Hòn Tre và Lại Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Tôn giáo học, Nhân học và Xã hội học văn hóa là nhằm giải mã chuẩn xác cấu trúc biểu tượng tâm linh, đồng thời đo lường các chiều kích biến đổi xã hội của nghi lễ. Toàn bộ quá trình điền dã dân tộc học, quan sát tham dự các kỳ đại lễ và tổng hợp dữ liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 24 tháng, từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 3 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã phân loại và làm sáng tỏ hệ thống thực hành 5 dạng thức tín ngưỡng tiêu biểu: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, thờ cúng nữ thần biển (Bà Chúa Xứ, Bà Mã Châu, Bà Thượng), thờ tiền hiền khai hoang (Bà Cố Chủ) và thờ thần Nam Hải (Cá Ông). Tại Đình thần Lại Sơn, lễ hội cúng thần diễn ra từ ngày 15 đến 17 tháng Giêng âm lịch thu hút từ 2.000 đến 3.000 lượt khách hành hương mỗi năm, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của nhu cầu tâm linh cộng đồng.

Thứ hai, tục thờ Cá Ông là tín ngưỡng ngư nghiệp thống trị, mang tính đại diện cao nhất cho cư dân biển Tây Nam. Trên toàn huyện hiện có 5 lăng, dinh thờ Cá Ông tại các xã Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du. Trong đó, Dinh Ông Nam Hải tại Hòn Tre đang lưu giữ và phụng thờ bộ xương Cá Ông nguyên vẹn có chiều dài 9,8 mét, tương ứng với trọng lượng khi còn sống ước đạt 5 tấn (trôi dạt vào đảo ngày 26 tháng 4 năm 2006). Tỷ lệ tàu thuyền đánh bắt thủy sản tham gia đoàn rước nghinh thủy trên biển vào ngày 15 và 16 tháng 10 âm lịch hằng năm đạt mức tuyệt đối 100%.

Thứ ba, sự dung hợp tín ngưỡng thể hiện tính bao dung văn hóa đặc biệt. Miếu Bà Cố Chủ tại Lại Sơn thành lập từ năm 1899 và được tôn tạo kiên cố năm 2011 không chỉ lưu giữ biểu tượng người khai phá đảo Hòn Sơn mà còn tích hợp hình thức Shaman giáo bản địa nhằm hỗ trợ trị bệnh và dự báo thời tiết. Hơn 85% người dân địa phương khẳng định sinh hoạt tín ngưỡng là sợi dây kết nối cộng đồng thiết yếu.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng kỹ thuật khi các cơ sở thờ tự chỉ đáp ứng được khoảng 60% năng lực phục vụ trong các dịp lễ hội cao điểm. Mặt khác, chỉ có khoảng 35% thanh niên trẻ hiểu rõ về ý nghĩa của các bài văn tế cổ và nguồn gốc các thần tích, cho thấy nguy cơ đứt gãy truyền thống giữa các thế hệ.

Thảo luận kết quả

Các số liệu và mối quan hệ cấu trúc giữa 5 loại hình tín ngưỡng có thể được biểu diễn trực quan qua bảng ma trận đối sánh về không gian thờ tự, chu kỳ lễ thức và tỷ lệ người tham gia. Đồng thời, sự phân bổ niềm tin giữa tín ngưỡng gia đình và tín ngưỡng cộng đồng có thể minh họa thông qua biểu đồ tròn, thể hiện sự áp đảo của tục thờ tổ tiên kết hợp phối tự bách thần.

Nguyên nhân cốt lõi của sự phát triển tín ngưỡng tại Kiên Hải xuất phát từ điều kiện mưu sinh nhiều rủi ro trên biển khơi, buộc ngư dân phải tạo lập điểm tựa tâm linh để giải tỏa tâm lý lo âu. So sánh với các nghiên cứu về văn hóa biển tại duyên hải Trung Bộ và vùng cửa biển Bến Tre, tín ngưỡng tại Kiên Hải mang đậm tính linh hoạt và tính dung hợp đa tộc người. Sự xuất hiện của các thần tích Bà Mã Châu (nguồn gốc Hoa), thần Neak Tà (nguồn gốc Khmer) cùng với Bà Chúa Xứ, Nguyễn Trung Trực (nguồn gốc Việt) khẳng định quy luật tiếp biến văn hóa hòa bình, tạo nên bản sắc độc đáo cho không gian văn hóa biển đảo Kiên Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng và không gian thực hành tín ngưỡng. Ủy ban nhân dân huyện Kiên Hải phối hợp cùng Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Kiên Giang cần đầu tư mở rộng diện tích khuôn viên, cải tạo bến cập tàu tại 5 di tích lăng miếu trọng điểm, mục tiêu nâng khả năng tiếp đón khách hành hương thêm 40% trong lộ trình giai đoạn 2021-2025.

Thứ hai, chuẩn hóa và phục dựng bài bản các nghi thức lễ hội truyền thống. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì xây dựng bộ hồ sơ khoa học, số hóa 100% văn bản Hán - Nôm, hoành phi, câu đối và bài văn tế tại Đình thần Lại Sơn và Lăng Ông Nam Hải; đồng thời tái hiện đầy đủ các trò chơi dân gian miền biển trong phần hội trước quý 4 năm 2024.

Thứ ba, gắn kết bảo tồn di sản văn hóa với chiến lược phát triển du lịch biển đảo bền vững. Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp với các công ty lữ hành xây dựng tuyến du lịch trải nghiệm văn hóa tâm linh tại Hòn Tre và Hòn Sơn, đặt mục tiêu tăng trưởng lượng khách du lịch có trách nhiệm từ 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2022-2030, song song với việc bảo vệ hệ sinh thái môi trường biển.

Thứ tư, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và tuyên truyền pháp luật. Ban Tôn giáo tỉnh Kiên Giang phối hợp cùng chính quyền cấp xã tổ chức định kỳ 2 lớp tập huấn mỗi năm cho 100% thành viên các Ban Quý tế về Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; kiên quyết bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan, thương mại hóa nghi lễ và hiện tượng xả rác thải vàng mã ra biển từ năm 2021 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử học và Dân tộc học: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và nguồn tư liệu điền dã chuyên sâu về quá trình dung hợp văn hóa tâm linh vùng hải đảo phía Nam.

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước thuộc ngành Văn hóa, Thông tin và Ban Tôn giáo các cấp: Tài liệu là căn cứ khoa học hỗ trợ xây dựng chính sách quản lý lễ hội, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và thẩm định hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh và quốc gia.

Nhóm thành viên Ban Quý tế, Ban Quản trị đình, đền, chùa, miếu tại các địa phương ven biển: Công trình là tài liệu tra cứu hữu ích về quy chuẩn nghi thức tế tự cổ truyền, phương pháp bảo tồn hiện vật xương cá Ông và cách thức tổ chức lễ hội trật tự, văn minh.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành, chuyên gia quy hoạch du lịch và hướng dẫn viên du lịch: Luận văn mở ra góc nhìn thực tế để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa biển đảo, biên thuyết minh về các danh nhân, thần tích địa phương nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách.

Câu hỏi thường gặp

Tín ngưỡng truyền thống tại Kiên Hải có điểm gì khác biệt so với các vùng duyên hải miền Trung? Tín ngưỡng tại Kiên Hải mang đậm dấu ấn giao lưu văn hóa Nam Bộ với sự tích hợp sâu sắc giữa tín ngưỡng ngư nghiệp thuần túy (thờ Cá Ông) và tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ tiền hiền khai phá đảo (Bà Cố Chủ), thể hiện tinh thần khoan dung, bình đẳng và mềm dẻo hơn so với cấu trúc lễ nghi chặt chẽ tại miền Trung.

Bà Cố Chủ tại đảo Lại Sơn là nhân vật có thật trong lịch sử hay huyền tích dân gian? Bà Cố Chủ có tên thật là Tăng Thị Phú, là người phụ nữ đầu tiên đặt chân lên khai phá đảo Hòn Sơn vào cuối thế kỷ XIX. Nhờ công lao giúp dân, khả năng xem thiên văn dự báo bão và sự hy sinh kiên cường trước hải tặc, bà đã được nhân dân lập miếu thờ vào năm 1899 và tôn xưng thành phúc thần bảo hộ đảo.

Tại sao tục thờ Cá Ông lại chiếm vị trí tối thượng trong tâm thức ngư dân Kiên Hải? Ngư dân xem Cá Ông là loài sinh vật cứu tinh thường trợ giúp tàu thuyền vượt qua phong ba bão táp. Niềm tin này được củng cố vững chắc qua các sắc phong hoàng gia triều Nguyễn phong tặng danh hiệu "Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng đẳng Thần" và được duy trì qua nghi thức Nghinh Ông trang nghiêm hằng năm.

Thực trạng biến đổi niềm tin tâm linh tại Kiên Hải hiện nay đang đối mặt với những nguy cơ nào? Hai thách thức lớn nhất là xu hướng thương mại hóa lễ hội làm giảm tính thiêng liêng cổ truyền và sự suy giảm mức độ quan tâm của thế hệ trẻ đối với các tri thức văn hóa bản địa, dẫn đến nguy cơ mai một các nghi thức diễn xướng dân gian.

Chính quyền địa phương cần làm gì để vừa phát triển du lịch vừa giữ gìn tính thiêng của di tích? Địa phương cần khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt khu vực nội tự của các đình miếu, xây dựng quy chế ứng xử văn minh du lịch, kiểm soát hoạt động dâng cúng vàng mã và trích một phần nguồn thu từ dịch vụ du lịch để tái đầu tư trùng tu di sản.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và nhận diện toàn diện diện mạo 5 loại hình tín ngưỡng truyền thống đặc sắc tại huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
  • Công trình cung cấp bộ dữ liệu điền dã thực chứng chuẩn xác về hệ thống di tích lăng miếu, thần tích Bà Cố Chủ và hiện vật cốt Cá Ông dài 9,8 mét phục vụ công tác nghiên cứu học thuật.
  • Đánh giá khách quan các giá trị cố kết cộng đồng, giáo dục đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", đồng thời chỉ rõ những nút thắt về cơ sở hạ tầng và xu hướng biến đổi niềm tin trong bối cảnh kinh tế thị trường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý hành chính, giáo dục cộng đồng và định hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh bền vững.
  • Khẳng định giá trị của tín ngưỡng truyền thống như một nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tây Nam của Tổ quốc.

Lộ trình triển khai các giải pháp bảo tồn cần được các cơ quan quản lý và chính quyền địa phương hiện thực hóa quyết liệt trong giai đoạn 2021-2025. Các nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng cư dân cần chung tay hành động ngay hôm nay để gìn giữ vẹn nguyên bản sắc văn hóa biển đảo thiêng liêng cho các thế hệ mai sau.