Tổng quan nghiên cứu

Huyện Nông Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam là địa bàn miền núi thuần nông với 21.958 người tham gia lao động, chiếm 68,72% tổng dân số 31.954 người vào năm 2018. Mặc dù lực lượng lao động dồi dào, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 26,43%. Khu vực nông thôn tập trung hơn 88,4% dân cư, tỷ lệ hộ nghèo còn 15% và hộ cận nghèo ở mức 10,52%. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tại địa phương thường xuyên đối mặt với thiên tai, lượng mưa trung bình hàng năm lên tới 2.580 mm gây ngập lụt cục bộ trên lưu vực sông Thu Bồn. Tình trạng lao động dôi dư lúc nông nhàn nhưng thiếu kỹ năng nghề khiến việc chuyển dịch cơ cấu việc làm gặp nhiều trở ngại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá tính đồng bộ và hiệu quả trong quy trình triển khai Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 3577 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam tại huyện Nông Sơn. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng tổ chức đào tạo, nhận diện các rào cản khách quan lẫn chủ quan, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho 1.500 lao động giai đoạn 2016-2020 (gồm 1.000 lao động nông nghiệp và 500 lao động phi nông nghiệp).

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn 6 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Nông Sơn trong khung thời gian từ năm 2017 đến năm 2019. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng thu nhập bình quân vượt ngưỡng 32 triệu đồng một người mỗi năm, đồng thời thúc đẩy 2 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới tiếp tục duy trì và nhân rộng tiêu chí việc làm bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chu trình chính sách công của các học giả Thomas Dye, William Jenkins, James Anderson và chuyên gia Nguyễn Hữu Hải. Khung phân tích vận dụng quy trình 5 bước thực thi chính sách: lập kế hoạch, tuyên truyền phổ biến, phân công phối hợp, đôn đốc kiểm tra giám sát, và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình thiết kế chương trình đào tạo nghề của Wentling nhằm đảm bảo tính chuẩn hóa từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp kiểm tra tay nghề thực hành.

Nghiên cứu làm rõ ba khái niệm cốt lõi:

  • Lao động nông thôn: Công dân trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, cư trú và làm việc tại địa bàn nông thôn.
  • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, hướng đến việc tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm tại chỗ.
  • Chính sách đào tạo nghề: Hệ thống quyết định và công cụ tài chính của Nhà nước, như mức hỗ trợ học nghề ngắn hạn tối đa 6 triệu đồng cho người khuyết tật, 4 triệu đồng cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng một ngày và tiền đi lại từ 200.000 đến 300.000 đồng mỗi khóa học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Nông Sơn và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam từ năm 2017 đến năm 2019. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra nhu cầu học nghề và khảo sát cung - cầu lao động định kỳ.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 3.124 phiếu ý kiến của người lao động nông thôn tại toàn bộ 6 xã và 1 thị trấn Trung Phước. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu theo cụm địa bàn, phân chia thành 1.124 đối tượng thuộc nhóm nghề nông nghiệp và 2.000 đối tượng thuộc nhóm nghề phi nông nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh đối chiếu định lượng nhằm bóc tách chính xác mối tương quan giữa cơ cấu cung đào tạo của cơ sở dạy nghề và nhu cầu tuyển dụng thực tế của gần 50 doanh nghiệp trên địa bàn, giúp luận văn đưa ra những kết luận khách quan, xác đáng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhu cầu học nghề có sự phân hóa rõ nét giữa hai nhóm ngành. Trong tổng số 3.124 lao động có nhu cầu đào tạo, nhóm nghề phi nông nghiệp chiếm 64,02% (2.000 người), cao gấp 1,78 lần so với nhóm nghề nông nghiệp chiếm 35,98% (1.124 người). Các nghề phi nông nghiệp được quan tâm nhiều nhất là may công nghiệp và sửa chữa máy móc nông cụ; trong khi nghề nông nghiệp tập trung vào kỹ thuật trồng nấm, chăn nuôi thú y và trồng rau an toàn.

Thứ hai, công tác thông tin tuyên truyền chính sách được triển khai với độ phủ rộng. Đài truyền thanh huyện đã phát sóng 95 tin bài, các đơn vị tổ chức 14 hội nghị tư vấn trực tiếp cho hơn 2.800 lao động nông thôn, in ấn phát hành 3.670 tờ rơi, 19 pano, 17 băng rôn và 4 video clip phóng sự mô hình kinh tế hiệu quả, thu hút hơn 5.000 lượt người tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật.

Thứ ba, hoạt động đôn đốc, kiểm tra và giám sát chưa được tiến hành thường xuyên. Trong hai năm 2016 và 2017, huyện không tổ chức được đoàn kiểm tra chuyên đề nào về công tác dạy nghề; đến năm 2018 mới thành lập 2 đoàn kiểm tra liên ngành, dẫn đến việc nắm bắt khó khăn ở cơ sở còn chậm trễ.

Thứ tư, khả năng liên kết việc làm sau đào tạo còn hạn chế. Toàn huyện chỉ có khoảng 50 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nhu cầu tuyển dụng hạn hẹp nên phần lớn học viên sau khi học xong các lớp nghề nông nghiệp phải tự tạo sinh kế tại hộ gia đình.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 26,43% bắt nguồn từ nhận thức của một bộ phận người dân còn nặng tính tự phát, quen với kinh nghiệm truyền thống. Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các cơ sở dạy nghề huyện còn thiếu thốn, chưa đồng bộ với công nghệ sản xuất hiện đại. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 2015-2019 đạt bình quân 17,23%/năm, nhưng ngành công nghiệp - xây dựng chỉ mới bứt phá mạnh từ năm 2019, chưa tạo ra ngay nhiều vị trí việc làm mới.

Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Văn Đại (2012) và tác giả Võ Thanh Tùng (2018), khi đều chỉ ra rằng đào tạo nghề vùng miền núi khó đạt hiệu quả cao nếu thiếu vắng sự tham gia của doanh nghiệp bao tiêu đầu ra. Để minh họa trực quan, các dữ liệu về biến động cơ cấu 3.124 lao động học nghề và tăng trưởng kinh tế 17,23% được biểu diễn qua biểu đồ cột thể hiện tỷ trọng chuyển dịch lao động và bảng tổng hợp cân đối cung - cầu lao động theo từng xã, giúp nhà hoạch định chính sách nhận diện rõ các khoảng trống đào tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề. Ủy ban nhân dân huyện giao Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân 6 xã đổi mới phương thức điều tra, đảm bảo 100% hộ nông thôn được khảo sát nhu cầu chính xác trước ngày 30 tháng 11 hàng năm, loại bỏ tình trạng mở lớp đào tạo theo chỉ tiêu hành chính áp đặt.

Thứ hai, chuẩn hóa chương trình giáo trình và nâng cao năng lực giáo viên. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các trường nghề điều chỉnh khung chương trình, nâng thời lượng thực hành lên tối thiểu 70% tổng thời gian khóa học; thực hiện đầy đủ chế độ chi trả tiền công giảng dạy từ 25.000 đồng/giờ đến 300.000 đồng/giờ cho giáo viên giỏi, nghệ nhân và tiến sĩ nông nghiệp theo đúng quy định giai đoạn 2021-2025.

Thứ ba, đẩy mạnh cơ chế liên kết ba bên giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Thiết lập thỏa thuận hợp tác đào tạo và tuyển dụng với ít nhất 30 trong tổng số gần 50 doanh nghiệp trên địa bàn huyện và khu vực lân cận, cam kết tiếp nhận tối thiểu 60% học viên tốt nghiệp các ngành may công nghiệp và cơ khí nông cụ vào làm việc có hợp đồng ổn định.

Thứ tư, tối ưu hóa nguồn vốn tín dụng và duy trì thanh tra định kỳ. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện đẩy nhanh giải ngân gói vay giải quyết việc làm tối đa 50 triệu đồng một lao động theo Nghị định 61/2015/NĐ-CP; đồng thời Ban chỉ đạo huyện duy trì tối thiểu 2 đợt kiểm tra, giám sát chất lượng đào tạo tại các xã trong mỗi năm tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và Ban chỉ đạo đào tạo nghề cấp huyện, cấp xã: Tài liệu cung cấp quy trình 5 bước thực thi chính sách và bài học thực tiễn từ địa bàn Nông Sơn để tổ chức bộ máy, phân bổ nguồn kinh phí ngân sách theo Đề án 1956 và Nghị định 32/2019/NĐ-CP đạt hiệu quả tối ưu.

  2. Ban giám hiệu các trường trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp: Khai thác mô hình thiết kế bài giảng nghề ngắn hạn dưới 3 tháng, gắn kiến thức thực hành kỹ thuật nông nghiệp với nhu cầu của 3.124 lao động địa phương.

  3. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Chính sách công, Quản lý công: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp lý thuyết chu trình chính sách với phân tích định lượng thực chứng, phục vụ việc xây dựng luận văn, luận án chuyên ngành.

  4. Lãnh đạo các doanh nghiệp, hợp tác xã tại địa phương: Nắm bắt cơ cấu nguồn nhân lực gồm 21.958 lao động để chủ động phối hợp với chính quyền đặt hàng đào tạo nghề may, cơ khí, tạo nguồn công nhân lành nghề phục vụ mở rộng sản xuất kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khung pháp lý chủ đạo điều chỉnh chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Nông Sơn gồm những văn bản nào? Chính sách căn cứ trên Quyết định 1956/QĐ-TTg, Quyết định 971/QĐ-TTg, Quyết định 46/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, cùng Quyết định 494/QĐ-UBND và Nghị quyết 12/2016/NQ-HĐND của tỉnh Quảng Nam về hỗ trợ đào tạo lao động.

  2. Mức hỗ trợ tài chính cho người lao động nông thôn khi tham gia học nghề ngắn hạn được quy định cụ thể ra sao? Người khuyết tật được hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 6 triệu đồng/người/khóa; người thuộc hộ nghèo dân tộc thiểu số nhận tối đa 4 triệu đồng/khóa; hộ cận nghèo nhận 2,5 triệu đồng/khóa; đi kèm phụ cấp tiền ăn 30.000 đồng/ngày và tiền đi lại từ 200.000 đến 300.000 đồng/khóa.

  3. Hạn chế lớn nhất trong khâu kiểm tra, giám sát thực thi chính sách tại địa phương giai đoạn 2017-2019 là gì? Hạn chế lớn nhất là tính gián đoạn trong công tác giám sát. Trong hai năm liên tiếp 2016 và 2017 huyện không thành lập đoàn kiểm tra chuyên đề; đến năm 2018 mới thành lập được 2 đoàn kiểm tra dẫn đến việc phát hiện và khắc phục các sai lệch đào tạo chưa kịp thời.

  4. Cơ cấu nhu cầu học nghề của người lao động trên địa bàn huyện Nông Sơn phân bố như thế nào? Khảo sát 3.124 người cho thấy 2.000 lao động có nhu cầu học nghề phi nông nghiệp như may công nghiệp, sửa chữa máy nông cụ và 1.124 lao động đăng ký học nghề nông nghiệp như trồng nấm, chăn nuôi gia súc và bảo vệ thực vật.

  5. Người lao động sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề được hỗ trợ vay vốn tự tạo việc làm với hạn mức bao nhiêu? Học viên sau tốt nghiệp được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội theo Nghị định 61/2015/NĐ-CP với mức vay tối đa 50 triệu đồng một người để đầu tư chuồng trại, mua sắm máy móc và phát triển mô hình kinh tế hộ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và quy trình 5 bước thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện miền núi Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
  • Công trình bóc tách thực trạng nguồn lao động địa phương với 21.958 người nhưng tỷ lệ qua đào tạo chỉ đạt 26,43%, chỉ rõ sự mất cân đối giữa nhu cầu thực tế và năng lực đáp ứng của cơ sở đào tạo.
  • Luận văn phân tích khách quan các điểm nghẽn về cơ sở vật chất, sự hạn chế của mạng lưới gần 50 doanh nghiệp nhỏ và công tác kiểm tra giám sát chưa liên tục.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao đã được đề xuất, chú trọng liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp và hỗ trợ gói vay ưu đãi 50 triệu đồng.
  • Đóng góp quan trọng của nghiên cứu là cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc giúp địa phương hoàn thành mục tiêu đào tạo 1.500 lao động và nâng cao thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn 2021-2025.

Các nhà quản lý chính sách, viện nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phạm Văn Bằng để khai thác sâu hơn hệ thống bảng biểu và khuyến nghị ứng dụng thực tế.