Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp là nhân tố then chốt nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trong suốt chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển từ năm 1998 đến năm 2018, Học viện Tư pháp đã đào tạo và bồi dưỡng hơn 51.049 học viên trên phạm vi cả nước, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan tòa án, viện kiểm sát và các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này đang đối mặt với nhiều biến chuyển lớn khi mô hình đào tạo thẩm phán và kiểm sát viên có sự phân tán về các cơ sở ngành riêng biệt từ giai đoạn 2014-2015.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong đào tạo chức danh tư pháp, phân tích toàn diện thực trạng quản lý và tổ chức đào tạo tại Học viện Tư pháp trong giai đoạn 1998-2018, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đến năm 2025 và tầm nhìn 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đánh giá quy trình quản lý 11 chương trình đào tạo nghề và năng lực vận hành của bộ máy quản lý gồm 147 cán bộ, giảng viên cơ hữu cùng 600 giảng viên thỉnh giảng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai nền tảng lý thuyết chủ đạo là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, kết hợp cùng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước hiện đại trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quản lý nhà nước được tiếp cận dưới góc độ là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực pháp lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lên toàn bộ hệ thống đào tạo nghề luật nhằm chuẩn hóa đội ngũ chức danh tư pháp.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa 4 trụ cột quản lý chính: hệ thống thể chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ giảng viên - cán bộ quản lý, và cơ chế kiểm định chất lượng chương trình đào tạo. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Quản lý nhà nước về đào tạo chức danh tư pháp: Hoạt động điều hành, chấp hành và hướng dẫn của cơ quan công quyền nhằm bảo đảm nguồn nhân lực tư pháp đạt chuẩn mực đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị.
  • Chức danh tư pháp: Nhóm vị trí công tác chuyên môn đặc thù trong hệ thống tư pháp gồm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, Thư ký tòa án, Thẩm tra viên.
  • Chức danh bổ trợ tư pháp: Đội ngũ hành nghề dịch vụ pháp lý gồm Luật sư, Công chứng viên, Đấu giá viên, Thừa phát lại, Quản tài viên và Trợ giúp viên pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg, Quyết định số 2083/QĐ-TTg), các báo cáo tổng kết 20 năm đào tạo của Học viện Tư pháp và hơn 1.500 bộ hồ sơ vụ án tình huống thực tế.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% dữ liệu thống kê từ 11 chương trình đào tạo nghề tư pháp và bổ trợ tư pháp đã triển khai tại Học viện trong giai đoạn 1998-2018. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn phần được áp dụng để khảo sát kết quả tốt nghiệp của 15 khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, 7 khóa đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, cùng các khóa đào tạo nghề luật sư, công chứng viên quy mô lớn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp với phương pháp thống kê mô tả và logic lịch sử nhằm làm rõ tiến trình hoàn thiện thể chế qua từng mốc thời gian, bảo đảm đánh giá khách quan mối tương quan giữa sự thay đổi chính sách quản lý và chất lượng chuẩn đầu ra của đội ngũ cán bộ tư pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô bộ máy và năng lực đội ngũ quản lý có sự tăng trưởng vượt bậc qua 2 thập kỷ. Năm 1998, khi mới thành lập, cơ sở đào tạo chỉ có 16 cán bộ, giảng viên (trong đó có 5 giảng viên cơ hữu). Đến năm 2018, con số này đã tăng lên 147 người (gồm 57 giảng viên cơ hữu và 90 cán bộ quản lý), tăng hơn 800% về quy mô nhân sự. Bên cạnh đó, Học viện đã xây dựng được mạng lưới vững chắc với hơn 600 giảng viên thỉnh giảng là các thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư giàu kinh nghiệm thực tiễn.

Thứ hai, kết quả đào tạo các chức danh đạt mốc đột phá với 51.049 học viên được tuyển sinh và công nhận tốt nghiệp tính đến ngày 01/02/2018. Trong đó, Học viện đã hoàn thành đào tạo 15 khóa nghiệp vụ xét xử và 7 khóa nghiệp vụ kiểm sát, cung cấp hàng ngàn cán bộ nguồn cho hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp trước khi hai ngành này thiết lập cơ sở đào tạo độc lập.

Thứ ba, công tác quản lý chương trình và chuẩn hóa giáo trình đào tạo được nâng cấp rõ rệt. Thời lượng đào tạo nghề luật sư được quản lý điều chỉnh tăng từ 6 tháng lên 12 tháng (tăng 100% thời lượng) từ năm 2013; nghề công chứng tăng từ 6 tháng lên 12 tháng từ năm 2016; nghề đấu giá tăng từ 3 tháng lên 6 tháng từ năm 2017. Học viện đã số hóa và đưa vào sử dụng hơn 1.500 bộ hồ sơ tình huống thực tế phục vụ phương pháp giảng dạy tích cực.

Thứ tư, bước ngoặt thể chế đào tạo chung nguồn bổ nhiệm được hiện thực hóa theo Quyết định số 2543/QĐ-BTP và Quyết định số 1401/QĐ-HVTP năm 2016, mở ra khóa đào tạo liên thông đầu tiên giữa Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư với quy mô khởi điểm 32 học viên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những thành tựu trên xuất phát từ sự chỉ đạo sát sao của Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương và Bộ Tư pháp, cùng việc kiên định triết lý đào tạo lấy người học làm trung tâm và lấy hồ sơ tình huống làm nền tảng. Khi so sánh với thực tiễn quốc tế tại các quốc gia như Đức, Pháp hay Nhật Bản, mô hình đào tạo nghề tư pháp đòi hỏi tính thực hành chiếm trên 70% khối lượng học tập.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra sự thiếu đồng bộ khi công tác quản lý bị chia cắt sau năm 2015, dẫn đến việc Tòa án và Viện kiểm sát ngừng gửi học viên sang Học viện Tư pháp. Các dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu nhân sự 4 giai đoạn (1998, 2004, 2015, 2018) và bảng so sánh thời lượng đào tạo các chức danh, cho thấy rõ bức tranh chuyển dịch từ đào tạo lý thuyết hàn lâm sang trang bị kỹ năng giải quyết án chuyên sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đào tạo tư pháp: Bộ Tư pháp cần chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thống nhất tiêu chuẩn đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp trước năm 2025, khắc phục triệt để tình trạng phân tán đầu mối quản lý.

Thứ hai, mở rộng quy mô chương trình đào tạo chung nguồn Thẩm phán - Kiểm sát viên - Luật sư: Phấn đấu đạt chỉ tiêu tuyển sinh từ 300 đến 500 học viên/năm trong giai đoạn 2020-2025 theo Quyết định số 2083/QĐ-TTg, nhằm kiến tạo văn hóa tố tụng tranh tụng dân chủ, bình đẳng giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý: Đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% giảng viên cơ hữu đạt trình độ thạc sĩ trở lên (trong đó tối thiểu 40% có trình độ tiến sĩ luật học), đồng thời duy trì ổn định mạng lưới từ 600 đến 800 giảng viên thỉnh giảng giàu kinh nghiệm xét xử và tranh tụng thực tế.

Thứ tư, đổi mới công nghệ quản lý và kiểm định chất lượng: Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa 100% đối với hơn 1.500 hồ sơ tình huống vụ án, ứng dụng hệ thống quản lý học tập trực tuyến kết hợp trực tiếp, và thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo độc lập định kỳ 2 năm một lần cho tất cả 11 chương trình đào tạo nghề.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách thuộc Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và số liệu thực tiễn 20 năm để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực tư pháp giai đoạn 2020-2030.

Nhóm 2: Ban Giám đốc, phòng quản lý đào tạo và các khoa chuyên môn tại Học viện Tư pháp, Học viện Tòa án, Trường Đại học Kiểm sát. Tài liệu mang lại giải pháp thiết thực để tối ưu hóa khung chương trình đào tạo từ 6 tháng lên 12 tháng và nâng cao hiệu quả quản lý hơn 600 giảng viên thỉnh giảng.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Khoa học Quản lý công. Đề tài đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu quản lý chuyên ngành và hệ thống hóa văn bản pháp luật tư pháp.

Nhóm 4: Học viên các lớp đào tạo nghề luật sư, công chứng viên, đấu giá viên và thừa phát lại. Luận văn giúp người học nắm vững chuẩn đầu ra, quy chế quản lý đào tạo và định hướng rèn luyện đạo đức nghề nghiệp theo tiêu chuẩn chức danh quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý tại đơn vị nào và trong khung thời gian nào? Trả lời: Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện công tác quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp tại Học viện Tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp trong khung thời gian 20 năm, tính từ khi thành lập năm 1998 đến cột mốc kỷ niệm năm 2018.

Câu hỏi 2: Kết quả đào tạo nổi bật nhất của Học viện Tư pháp trong giai đoạn khảo sát là gì? Trả lời: Kết quả nổi bật nhất là việc tổ chức thành công 11 chương trình đào tạo chuyên môn, tiếp nhận và công nhận tốt nghiệp cho hơn 51.049 học viên thuộc các khối xét xử, kiểm sát, luật sư, công chứng và đấu giá viên, đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực cho cải cách tư pháp.

Câu hỏi 3: Vì sao thời lượng đào tạo các chức danh bổ trợ tư pháp lại được điều chỉnh tăng lên 12 tháng? Trả lời: Việc nâng thời lượng đào tạo luật sư năm 2013 và công chứng viên năm 2016 từ 6 tháng lên 12 tháng nhằm tăng 100% thời gian rèn luyện kỹ năng thực hành, ứng dụng hơn 1.500 hồ sơ án mẫu, bảo đảm học viên thích ứng ngay với môi trường hành nghề áp lực cao.

Câu hỏi 4: Đội ngũ giảng viên phục vụ công tác đào tạo tại Học viện được tổ chức như thế nào? Trả lời: Đội ngũ được tổ chức kết hợp giữa 57 giảng viên cơ hữu nắm vững lý luận sư phạm và khoảng 600 giảng viên thỉnh giảng là các chuyên gia thực tế như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư đang công tác tại các cơ quan tố tụng trung ương và địa phương.

Câu hỏi 5: Ý nghĩa của chương trình đào tạo chung nguồn Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư là gì? Trả lời: Chương trình được ban hành theo Quyết định số 2543/QĐ-BTP năm 2016 với quy mô khởi điểm 32 học viên, tạo nền tảng chung về đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, giúp các chức danh thấu hiểu vai trò của nhau, nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong đào tạo chức danh tư pháp, gắn liền với các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 49-NQ/TW.
  • Công trình phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn 20 năm phát triển của Học viện Tư pháp (1998-2018), ghi nhận thành tích đào tạo hơn 51.049 học viên qua 11 chương trình chuyên ngành.
  • Đề tài chỉ rõ những bất cập về sự phân tán đầu mối quản lý đào tạo sau năm 2015 và sự cần thiết phải chuẩn hóa khung thời gian giảng dạy 12 tháng cho các chức danh.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được xây dựng có tính khả thi cao, gắn liền với lộ trình hoàn thiện thể chế và số hóa 1.500 hồ sơ dữ liệu vụ án trong giai đoạn 2020-2025.
  • Đây là tài liệu khoa học giá trị cho các nhà hoạch định chính sách tư pháp; quý độc giả, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm nên khai thác trọn vẹn luận văn để phục vụ công tác nghiên cứu và thực thi nhiệm vụ chuyên môn.