Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. 10 e Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1.
Những vấn đề chung về thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm, đặc điểmquy hoạch sử dụng đất 1.1Khái niệm quy hoạch sử dụng đất Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển,là tư liệu sản xuất quan trọng và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Do vậy, QHSDĐ (quy hoạch sử dụng đất) sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội. Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế- xã hội và được xử lý thông qua các phương pháp phân tích, tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu SDĐ (sử dụng đất) một cách tiết kiệm, khoa học và có hiệu quả cao nhất.
Khi nghiên cứu về QHSDĐ có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có quan điểm cho rằng QHSDĐ chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây dựng đồng ruộng. Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng QHSDĐ được xây dựng dựa trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của QHSDĐ đất đai. Theo quan điểm của tổ chức Nông lương thực Quốc tế (gọi tắt là FAO) (1993) cho rằng: Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống đánh giá tiềm năng đất và nước, phương án sử dụng đất và các điều kiện kinh tế - xã hội để lựa chọn và áp dụng phương án sử dụng đất tốt nhất1.
Theo tác giả Nguyễn Đình Bồng (2006) “Quy hoạch đất đai là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức. “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần phải lập quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định[06]. Hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất.
Roma 11 e Theo tác giả Võ Tử Can “Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: [10]: - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai. - Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. - Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Luật Đất đai 2013 đã xác định quy hoạch sử dụng đất: “Là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” (Khoản 2 Điều 3).
Từ những quan niệm trên có thể thấy rằng: Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất trong cả nước nhằm phục vụ cho từng mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của từng vùng, từng địa phương và của cả nước và tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môitrường. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất vừa mang đặc tính chung, song cũng có những đặc tính riêng so với các loại quy hoạch. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất có những đặc điểm sau [21]: a. Tính lịch sử- xã hội Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - yếu tố tự nhiên cũng như quan hệ giữa người với người,thể hiệnđồng thời hai yếu tố: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ sản xuất.
Do vậy, quy hoạch sử dụng đất luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội và lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát của quy hoạch sử dụng đất. Nói cách khác quy hoạch sử dụng đất có tính lịch sử xã hội. Tính chất này xác nhận vai trò lịch sử của nó trong từng thời kỳ xây dựng và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội, thể hiện ở mục đích, yêu cầu, nội dung và sự hoàn thiện của phương án quy hoạch sử dụng đất. Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện trên các phương diện: 12 e Một là, đối với việc quy hoạch sử dụng đất – đây chính là hoạt động khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ.tài nguyên đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong một quốc gia, trong vùng hoặc đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương.
Hai là, quy hoạch sử dụng đất đề liên quan tới nhiều lĩnh vực như về khoa học, kinh tế và xã hội: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và sinh thái. Với đặc điểm này quy hoạch sử dụng đất lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân phối sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ và ổnđịnh. Tính dài hạn Trên phương diện pháp lý, quy hoạch sử dụng đất được cho là có thời hạn là 10 năm hoặc lâu hơn. Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố kinh tế xã hội như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình đô thị hóa, … d.
Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô Với đặc tính dài hạn quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố các nguồn đất cho các mục tiêu phát triển mà không thể dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi. Do vậy, quy hoạch sử dụng đất chỉ có thể là một quy hoạch mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ mô trong chính sách phát triển ở từng quốc gia. Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội. Bởi vì, khi lập quy hoạch các cơ quan có thẩm quyền cần tính đến các chính sách và quy định pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế - xã hội, bảo đảm tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất định. 13 e Khi xã hội phát triển, khoa học và công nghệ ngày càng tiến bộ, chính sách kinh tế và các dự kiến của của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp thì việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Vì thế, quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chu kỳ “Quy hoạch - thực hiện - Quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - Tiếp tục thực hiện.” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao. Các nguyên tắc và yêu cầu đối với quy hoạch sử dụng đất 1.
Các nguyên tắc QHSDĐ Căn cứ các quy định pháp luật việc lập quy hoạch sử dụng đất cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Một là, đảm bảo tuân thủ, bám sát các quy trình, nội dung, nguyên tắc theo quy định của Luật Quy hoạch, Nghị định 148/2020/NĐ-CP; và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Hai là, đảm bảo tính thống nhất, tổng thể, đồng bộ và hệ thống giữa quy hoạch tỉnh với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự kết hợp hiệu quả giữa quản lý ngành/lĩnh vực với quản lý lãnh thổ, bảo vệ môi trường và quốc phòng - an ninh; các phân tích, đánh giá và định hướng phát triển được dựa trên mối quan hệ tổng thể, có tính hệ thống, tính kết nối liên ngành, liên lĩnh vực và liên vùng. Phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng. Ba là, bền vững và dài hạn: Đảm bảo lập quy hoạch dựa trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường cho một thời gian dài, tầm nhìn đến năm 2050; giải quyết những vấn đề cơ bản có tính cấp thiết trước mắt và vấn đề cơ bản có tính lâu dài liên quan đến quy hoạch; giải quyết những vấn đề có tính liên vùng, liên địa phương trong tỉnh.