Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN 1. Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tiền 1. Khái niệm thi hành án phạt tiền Dưới góc độ nghiên cứu lý luận của khoa học pháp lý, Thi hành án thuộc lĩnh vực dân sự không nên coi làgiai đoạn của tố tụng, bởi vì thi hành án có mục đích khác với mục đích của tố tụng. Điều này thể hiện ở chỗ, mục đích của tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục lại trạng thái ban đầu của sự việc.
Nói cách khác, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định của pháp luật. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng. và khi có phán quyết của toà án thì quá trình tố tụng kết thúc. Vì vậy, có thể nói một cách hình ảnh rằng, tố tụng là quá trình đi tìm chân lí để áp dụng công lí (pháp luật); còn thi hành án là quá trình thực thi chân lí bằng công lí.
Ở đây chân lí đã rõ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, thi hành án chỉ nhằm thực hiện các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm Thi hành án dân sự như sau: “Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp, do các cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo thực thi các bản án, quyết định của cơ quan tài phán, có tính chất bắt buộc đối với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có liên quan”. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chỉ nghiên cứu và đề cập đến khía cạnh thi hành án phạt tiền. Do đó, có thể đưa ra khái niệm Thi 6 hành án phạt tiền như sau: “Thi hành án phạt tiền là hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc người phải thi hành án phải thi hành một khoản tiền nhất định theo các bản án, quyết định của cơ quan tài phán”.
Trên cơ sở đó, có thể thấy việc thi hành án phạt tiền nhằm thể hiện quan điểm của nhà nước tác động đến người phải thi hành hình phạt tiền, từ đó khuyến khích người phải thi hành án tự giác thi hành nếu không sẽ bị áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện. Mục đích, ý nghĩa của thi hành án phạt tiền: Thi hành án phạt tiền có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Hoạt động thi hành án phạt tiền là công đoạn cuối cùng, đảm bảo cho các bản án có áp dụng hình phạt tiền được chấp hành, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế Xã hội chủ nghĩa; Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước. Thi hành án phạt tiền là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, nhằm thi hành những bản án có áp dụng hình phạt tiền.
Các bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, cơ quan thi hành án dân sự có mối quan hệ hữu cơ với Tòa án. Nếu mục đích của việc thi hành án phạt tiền không đạt được thì toàn bộ hoạt động tố tụng trước đó cũng trở nên vô nghĩa. Nếu một bản án, quyết định của Tòa án có áp dụng hình phạt tiền nhưng không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự, kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
7 Thông qua việc thi hành án phạt tiền cũng có thể kiểm tra lại quá trình xét xử trước đó, bản án có thấu tình đạt lý mới có thể dễ dàng thi hành trên thực tế, trái lại việc xét xử ra một bản án có sai sót, sẽ khó khi hành. Thông qua việc thi hành án phạt tiền, các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật phải chấm dứt các hành vi đó và thực hiện các nghĩa vụ của mình. Quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền 1. Chủ thể có thẩm quyền thi hành án phạt tiền: Trên cơ sở quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, trường hợp hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính cũng như trường hợp hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung thì chủ thể có thẩm quyền thi hành án phạt tiền và đối tượng phải thi hành án phạt tiền đều được quy định cụ thể như sau: Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định phạm vi điều chỉnh.
Như vậy, có thể thấy thi hành án phạt tiền nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014. Theo đó, về nguyên tắc Bản án có áp dụng hình phạt tiền, đã có hiệu lực thi hành phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án (Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014). Theo quy định tại Điều 13 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, quy định về cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự.
Mặc dù nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành dân sự là thi hành các bản án, quyết định. Tuy nhiên, người trực tiếp được giao quyền để tổ chức 8 thi hành án nói chung và thi hành án phạt tiền nói riêng là các Chấp hành viên. Điều 17 Luật Thi hành án dân sự quy định về chấp hành viên. Trong quá trình tổ chức thi hành án nói chung và thi hành án phạt tiền nói riêng, Chấp hành viên có những nhiệm vụ và quyền hạn theo Luật thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín. Đối tượng phải thi hành án phạt tiền: Khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 định nghĩa Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Căn cứ bản án đã có hiệu lực pháp luật, có áp dụng hình phạt tiền thì đối tượng phải thi hành án phạt tiền bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại. Căn cứ Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, người phải thi hành án phạt tiền có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Theo đó, người phải thi hành án phạt tiền có nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền phạt đã tuyên trong bản án trong thời gian tự nguyện (10 ngày kể từ ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án) tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền hoặc bằng các hình thức hợp pháp khác. Hết thời hạn tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án phạt tiền có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.Trình tự, thủ tục thi hành án phạt tiền Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định phạm vi điều chỉnh 9 Theo đó, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định những bản án, quyết định được thi hành. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 36Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì việc thi hành hình phạt tiền thuộc trường hợp thi hành án chủ động. Chương 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định thủ tục thi hành án dân sự như sau: Khi ra Bản án, Quyết định tòa án phải giải thích cho đương sự về quyền và nghĩa vụ thi hành án phạt tiền và đồng thời ghi rõ trong bản án về nghĩa vụ thi hành án.
Tòa án đã ra Bản án theo quy định tại điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án có ghi “ Để thi hành” tòa án đã ra bản án phải chuyển giao bản án cho cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Riêng đối với những bản án áp dụng hình phạt tiền trong đó có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định. Khi nhận bản án do Tòa án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.Sổ nhận bản án, quyết định phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án; số, ngày, tháng, năm của bản án và tên Tòa án đã ra bản án; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan.Việc giao, nhận trực tiếp bản án phải có chữ ký của hai bên; trường hợp nhận được bản án và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã chuyển giao biết.