Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra cơ sở hành nghề dược ngoài công lập. Chương 2: Thực trạng thanh tra cơ sở hành nghề dược ngoài công lập trên địa bàn huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường thanh tra cơ sở hành nghề dược ngoài công lập ở thành phố Hà Nội từ thực tiễn huyện Đông Anh. 6 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CƠ SỞ HÀNH NGHỀ DƢỢC NGOÀI CÔNG LẬP 1.
Cơ sở hành nghề dƣợc ngoài công lập 1. Khái niệm, đặc điểm cơ sở hành nghề dược ngoài công lập a) Khái niệm hành nghề dược Dược được hiểu là thuốc và nguyên liệu làm thuốc. Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hoá dược, thuốc hoá dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm. Dược lâm sàng là thuật ngữ để chỉ hoạt động nghiên cứu khoa học và thực hành dược về tư vấn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả nhằm tối ưu hoá việc sử dụng thuốc.
Kinh doanh dược là thuật ngữ chỉ việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ liên quan đến thuốc và nguyên liệu làm thuốc trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hành nghề dược là thuật ngữ dùng để chỉ “việc sử dụng trình độ chuyên môn của cá nhân để kinh doanh dược và hoạt động dược lâm sàng”[20]. Cơ sở ngoài công lập là cơ sở do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật. Cơ sở ngoài công lập được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng [12].
7 e Từ những khái niệm nêu trên cho thấy: - Hành nghề dược ngoài công lập là những quan hệ của cá nhân có trình độ chuyên môn về dược sử dụng trình độ chuyên môn của mình để tham gia hoạt động kinh doanh dược và hoạt động tư vấn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả nhằm tối ưu hoá việc sử dụng thuốc để đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh tật, chăm sóc phục hồi sức khoẻ cho con người. - Hoạt động hành nghề dược ngoài công lập gắn liền với hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, là một trong những hoạt động cung cấp dịch vụ y tế ngoài công lập. Qua những vấn đề nêu trên cho thấy phạm vi của hành nghề dược ngoài công lập rất rộng lớn, liên quan đến chăm sóc sức khoẻ, tính mạng của nhân dân, cung cấp thuốc, nguyên liệu, dược liệu làm thuốc cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc công lập, cung cấp thuốc, dược liệu làm thuốc cho người dân đảm bảo cho công tác khám bệnh, chữa bệnh cấp cứu điều trị cho người bệnh. Hành nghề dược ngoài công lập khi được nhìn từ góc độ là một trong những thành phần kinh tế thì hành nghề dược ngoài công lập được coi là một tiềm lực mang lại lợi nhuận kinh tế vừa tham gia đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.
Từ những khái niệm và những phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm HNDNCL như sau: hành nghề dược ngoài công lập là hoạt động hành nghề có điều kiện theo quy định của pháp luật của cá nhân, tổ chức không do nhà nước thành lập. Sử dụng trình độ chuyên môn của cá nhân để kinh doanh dược và hoạt động dược lâm sàng, buộc thức hiện các chính sách về thuế và các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật. b) Đặc điểm hành nghề dược ngoài công lập Hành nghề dược ngoài công lập có các đặc điểm sau. 8 e - Hành nghề dược ngoài công lập là loại hình hành nghề kinh doanh có điều kiện do Nhà nước quy định bằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
- Các cơ sở hành nghề dược ngoài công lập gồm các cơ sở bán buôn thuốc, nguyên liệu làm thuốc, cơ sở xuất khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc, cơ sở bán lẻ thuốc, cơ sở kinh doanh dịch vụ kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc, cơ sở kinh doanh dịch vụ thử thuốc trên lâm sàng, thử tương đương sinh học của thuốc, cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc. - Hành nghề dược ngoài công lập thuộc sở hữu tư nhân. Nhà nước là chủ thể quản lý hoạt động hành nghề dược bằng công cụ pháp luật thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát. Nhà nước ban hành chính sách về dược và phát triển công nghiệp cùng với đó là các quy định cụ thể về điều kiện cấp phép hoạt động.
- Mục đích chính của hoạt động hành nghề dược ngoài công lập là thu lại lợi nhuận cho chủ đầu tư, người tham gia hoạt động hành nghề dược. - Nhân lực tham gia hoạt động hành nghề dược phải là người được đào tạo chuyên ngành về y, dược, được cấp chứng chỉ hành nghề dược. Các cơ sở hành nghề dược ngoài công lập phải đáp ứng những điều kiện về nhân sự đây là điều kiện mang tính bắt buộc. Nếu người được đào tạo chuyên ngành về dược không có đủ thời gian thực hành nghề nghiệp về loại hình hành nghề tương ứng sẽ không được cấp chứng chỉ hành nghề, không đủ điều kiện để hành nghề dược.Phạm vi hoạt động của cơ sở hành nghề dược ngoài công lập 1.
Hoạt động của nhà thuốc - Về mua thuốc: + Nguồn thuốc được mua tại các cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp. + Có hồ sơ theo dõi, lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín, đảm bảo chất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh; 9 e + Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành (thuốc có số đăng ký hoặc thuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu). Thuốc mua còn nguyên vẹn và có đầy đủ bao gói của nhà sản xuất, nhãn đúng quy định theo quy chế hiện hành. Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ của thuốc mua về; + Khi nhập thuốc, người bán lẻ kiểm tra hạn dùng, kiểm tra các thông tin trên nhãn thuốc theo quy chế ghi nhãn, kiểm tra chất lượng (bằng cảm quan, nhất là với các thuốc dễ có biến đổi chất lượng) và có kiểm soát trong suốt quá trình bảo quản; - Về bán thuốc: Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc, bao gồm: + Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, Người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói.
+ Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra, đối chiếu với đơn thuốc các thuốc bán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc. + Thuốc được niêm yết giá thuốc đúng quy định và không bán cao hơn giá niêm yết. - Về hoạt động tư vấn cho người mua, bao gồm: + Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn; + Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị; + Người bán thuốc không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tại nơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo 10 e thuốc; khuyến khích người mua coi thuốc là hàng hóa thông thường và khuyến khích người mua mua thuốc nhiều hơn cần thiết. - Về bán thuốc theo đơn, thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc: + Khi bán các thuốc theo đơn phải có sự tham gia trực tiếp người bán lẻ có trình độ chuyên môn phù hợp và tuân thủ theo các quy định, quy chế hiện hành của Bộ Y tế về bán thuốc kê đơn.
+ Người bán lẻ phải bán theo đúng đơn thuốc. Trường hợp phát hiện đơn thuốc không rõ ràng về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, số lượng, hoặc có sai phạm về pháp lý, chuyên môn hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, Người bán lẻ phải thông báo lại cho người kê đơn biết. + Người bán lẻ cần phải giải thích rõ cho người mua và có quyền từ chối bán thuốc theo đơn trong các trường hợp đơn thuốc không hợp lệ, đơn thuốc có sai sót hoặc nghi vấn, đơn thuốc kê không nhằm mục đích chữa bệnh. + Người bán lẻ thuốc phải là người có Bằng dược sỹ Đại học mới được thay thế thuốc đã kê trong đơn thuốc bằng một thuốc khác có cùng hoạt chất, đường dùng, liều lượng khi có sự đồng ý của người mua và phải chịu trách nhiệm về việc thay đổi thuốc.
+ Người bán lẻ hướng dẫn người mua về cách sử dụng thuốc, nhắc nhở người mua thực hiện đúng đơn thuốc. + Sau khi bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất người bán lẻ phải vào sổ, lưu đơn thuốc bản chính. - Về bảo quản thuốc: + Thuốc phải được bảo quản theo yêu cầu ghi trên nhãn thuốc; + Thuốc phải được sắp xếp theo nhóm tác dụng dược lý; 11 e + Các thuốc kê đơn nếu được bày bán và bảo quản tại khu vực riêng có ghi rõ “Thuốc kê đơn” hoặc trong cùng một khu vực phải để riêng các thuốc bán theo đơn. Việc sắp xếp đảm bảo sự thuận lợi, tránh gây nhầm lẫn.
- Đối với thuốc phải kiểm soát đặc biệt (gây nghiện, hướng tâm thần, và tiền chất) và các thuốc độc hại, nhạy cảm và/hoặc nguy hiểm khác cũng như các thuốc có nguy cơ lạm dụng đặc biệt, gây cháy, nổ (như các chất lỏng và chất rắn dễ bắt lửa, dễ cháy và các loại khí nén) phải được bảo quản ở các khu vực riêng biệt, có các biện pháp bảo đảm an toàn và an ninh theo đúng quy định của pháp luật tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.