phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Chƣơng 2: Thực trạng động lực làm việc và tạo động lực làm việc cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk 18 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc Nguồn lực con ngƣời đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với tổ chức.
Các nhà quản lý ngày càng quan tâm tới việc làm sao để nguồn lực này có thể phát huy một cách tốt nhất, làm sao để một công chức cụ thể có thể làm việc một cách hăng say, nhiệt tình nhất. Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có những công chức làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhƣng cũng có những công chức làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công việc, thậm chí bỏ việc, kết quả thực hiện công việc thấp. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi công chức công chức. Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động.
Khái niệm “động lực” đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau tùy vào các ngành nghiên cứu khoa học: Vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý học,… Động lực là một khái niệm trừu tƣợng do đó có nhiều cách tiếp cận. Theo Maier và Lawder “động lực là sự khao khát tự nguyện của ngƣời lao động” họ đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi công chức nhƣ sau [8, tr.134]: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện 19 e Theo Kreitner “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hƣớng các hành vi công chức theo mục đích nhất định” [18, tr. Năm 1994 Higgins đƣa ra khái niệm động lực là lực thúc đẩy từ bên trong công chức để đáp ứng các nhu cầu chƣa thỏa mãn. Động lực làm việc luôn gắn với một công chức cụ thể, một tổ chức, một nhiệm vụ cụ thể, không tồn tại động lực chung không gắn với một công việc cụ thể nào.
Với mỗi công chức khác nhau, đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau, điều kiện lao động khác nhau mà bản thân công chức sẽ có những nỗ lực làm việc khác nhau. Đối với công chức công chức, động lực chủ yếu đƣợc tạo ra bởi sự tác động hoặc kích thích thông qua các yếu tố vật chất và tinh thần từ bên ngoài, trong đó chủ yếu nhất là các yếu tố vật chất. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm –Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của công chức để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [8, tr. Theo Bùi Anh Tuấn trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân công chức” [18, tr. Suy cho cùng “động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi công chức” mà ra. Nhƣ vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động lực để công chức có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Động lực lý giải cho lý do tại sao một ngƣời lại hành động.
Một ngƣời có động lực là khi ngƣời đó bắt tay vào làm việc mà không cần có sự cƣỡng bức, khi đó, họ có thể làm đƣợc nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ. 20 e Động lực làm việc thể hiện dƣới nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ… Từ những quan niệm và phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm động lực làm việc nhƣ sau: Động lực làm việc là sự thúc đẩy con ngƣời làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy đƣợc sức mạnh tiềm tàng bên trong, vƣợt qua đƣợc những thách thức, khó khăn để hoàn thành tốt công việc. Khái niệm tạo động lực làm việc Chính vì động lực làm việc có ảnh hƣởng quan trọng đến hiệu quả làm việc của tổ chức hành chính, nên tạo động lực làm việc luôn đƣợc quan tâm ở bất cứ tổ chức nào. Đây đƣợc coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của tổ chức.
Tạo động lực cho công chức là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích công chức làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm –Nguyễn Ngọc Quân “Tạo động lực là hệ thống các phƣơng pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến công chức nhằm làm cho công chức có động lực làm việc.135] Theo Bùi Anh Tuấn trƣờng đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong làm việc" [18, tr. Nhà quản trị muốn nhân viên trong tổ chức của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với ngƣời lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện cho ngƣời lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bù 21 e không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức.
Từ những quan niệm trên, các tác giả đều thống nhất, tạo động lực chính là áp dụng các cách thức quản lý để tác động đến ngƣời lao động làm cho họ nảy sinh động lực làm việc. Do vậy, tạo động lực làm việc là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hƣởng tới ngƣời lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức. Để có thể tạo đƣợc động lực cho ngƣời lao động cần phải tìm hiểu đƣợc ngƣời lao động làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ. Mục đích của tạo động lực: Tạo động lực cho ngƣời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của ngƣời quản lý.
Điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Một khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Không những thế nó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút lao động giỏi về với tổ chức. Một số học thuyết về động lực làm việc 1.
Nội dung một số học thuyết về động lực làm việc a. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học ngƣời Hoa Kỳ - Abraham Maslow cho rằng: ngƣời lao động có năm nhu cầu theo bậc thang từ thấp đến cao là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu đƣợc ghi nhận và nhu cầu tự hoàn thiện. Nhƣ vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu ngƣời lao động sẽ thay đổi đƣợc hành vi của con ngƣời. Dƣới đây là các biểu hiện tƣơng ứng với các cấp độ nhu cầu của con ngƣời [15, tr.180]: 22 e Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu về xã hội Nhu cầu về an toàn Các nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Ngƣời lãnh đạo hoặc quản lý có thể sử dụng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu của nhân viên làm cho họ hăng hái và tận tụy hơn với nhiệm vụ mình đảm nhận.
Nhu cầu cơ bản về sinh học có thể đƣợc đáp ứng thông qua mức lƣơng tốt, đài thọ bữa trƣa hoặc ăn giữa ca miễn phí, hoặc bảo đảm các khoản phúc lợi khác. Đáp ứng nhu cầu về quan hệ xã hội thể hiện qua các hoạt động giao lƣu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc giữa các bộ phận trong công ty. Đồng thời, những hoạt động này còn giúp phát triển ý thức cộng đồng hay tinh thần đồng đội. Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, nhà quản lý có thể tạo cơ hội phát triển những thế mạnh ngƣời lao động.
Đồng thời, ngƣời lao động cần đƣợc đào tạo và và có cơ hội tự nâng cấp bản thân, cần đƣợc khuyến khích tham gia vào sự phát triển chung của doanh nghiệp hoặc tổ chức. Thuyết hai yếu tố của Fredeic Herzberg Lý thuyết gia quản trị ngƣời Hoa Kỳ, ông Frederick Herzberg chia các yếu tố tạo động lực lao động thành hai loại: yếu tố duy trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố thúc đẩy - thỏa mãn bản chất bên trong. Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thƣờng. Mọi nhân viên đều mong muốn nhận đƣợc tiền lƣơng tƣơng xứng với sức lực của họ, công ty đƣợc quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ đƣợc thoải mái.
Khi các yếu tố này đƣợc thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhƣng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút. Tập hợp các yếu tố thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, liên quan đến bản chất công việc. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, ngƣời công nhân sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lƣời biếng và thiếu sự thích thú làm việc.