Chương I: Phương pháp luận Mác-xít và thành tựu trong nghiên cứu- phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu trước năm 1986. Chương II: Tiếp nhận thi pháp học và sự vận dụng trong nghiên cứu- phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu sau năm 1986. Chương III: Phong cách nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu. 17 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: Phƣơng pháp luận Mác-xít và thành tựu trong nghiên cứu- phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu trƣớc năm 1986.
Sơ lƣợc về tiểu sử và quá trình nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu. Đỗ Đức Hiểu sinh ngày 16 tháng 9 năm 1924 trong một gia đình công chức tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Ngay từ rất sớm, ông được làm quen với tiếng Pháp và văn hoá Pháp. Năm 17 tuổi, ông vào học trường Bưởi (tiền thân là trường Chu Văn An), một ngôi trường nổi tiếng của Hà Nội lúc bấy giờ.
Tốt nghiệp tú tài năm 1943, ông nộp đơn vào ban Luật. Cách mạng tháng tám nổ ra và thành công, ông rời trường lên chiến khu kháng chiến theo tiếng gọi của Đảng và Chính phủ. Đem sức lực và khả năng của mình phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân. Từ năm 1946-1950, ông dạy học một loạt các trường chiến khu Việt Bắc: Trường Trung học Hùng Vương-Phú Thọ, Trường Lương Ngọc Quyến-Thái Nguyên…Những ngôi trường được coi là cái nôi thân thương của ngành giáo dục thời kháng chiến.
Năm 1954 hoà bình lập lại, Đỗ Đức Hiểu được phân công về làm việc tại ban Tu thư của Bộ giáo dục, chuyên trách biên soạn sách giáo khoa bậc Trung học Phổ thông. Cũng trong thời gian này, ông và một số nhà nghiên cứu khác như Vũ Đình Liên, Huỳnh Lí, Lê Thước, Lê Trí Viễn… thành lập nhóm Lê Quí Đôn, chuyên làm công việc biên soạn, hiệu đính, sưu tầm và dịch thuật. Đây là một nhóm học thuật tự nguyện vì tình yêu khoa học và giáo dục nước nhà. Trong những năm này, Đỗ Đức Hiểu cùng nhóm Lê Quí Đôn đã có công lớn dịch thuật một loạt các tác phẩm văn học nước ngoài sang Tiếng Việt.
Một số tác phẩm như: Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Pari của Victo-Huygô, Túp lều bác Tôm của Mác-tuyên, một số vở kịch của Môlie .Đặc biệt là công trình Sơ thảo văn học Việt Nam đầu tiên có tính hệ thống và một số bản dịch chuẩn mực nhất đã hình thành từ đây. 18 Năm 1959, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Ban Tu thư, Đỗ Đức Hiểu về làm việc tại Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong thời gian này, ông có điều kiện đựơc làm việc với những nhà nghiên cứu hàng đầu của nước ta lúc bấy giờ như Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Như Mai, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh…Trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, việc đóng cửa quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây khiến cho nguồn tài liệu tri thức, sách vở về văn học Phương Tây ở nước ta lúc đó trở nên khan hiếm, Đỗ Đức Hiểu cùng một số bạn đồng nghiệp đã biên soạn cuốn Lịch sử Văn học Phương Tây. Nó như một cuốn giáo trình cung cấp những tri thức về văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp để đáp ứng sự nghiệp giảng dạy văn học Phương Tây cho sinh viên các trường Đại học.
Cuốn sách mang nội dung súc tích, có giá trị lịch sử cao về văn học, lúc bấy giờ đã đem đến cho sinh viên “một cái nhìn tương đối hệ thống về diện mạo tổng thể, đặc trưng của nền văn học này” [47]. Từ năm 1964- 1967, ông được cử sang giảng dạy tiếng Pháp tại Đại học Nam Kinh Trung Quốc. Một thời gian ngắn sau cách mạng văn hoá Trung Quốc, ông về nước công tác tại khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Từ năm 1970, ông trở lại khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội cho tới lúc nghỉ hưu (năm 1990).
Trong những năm 1970 đến năm 1978, ông tham gia công tác quản lí khoa Ngữ văn với cương vị Phó Chủ nhiệm phụ trách đào tạo. Trong thời gian khoảng năm mươi năm nghiên cứu và giảng dạy, Đỗ Đức Hiểu đã để lại nhiều công trình dịch thuật, nghiên cứu và phê bình có giá trị. Năm 1978, Đỗ Đức Hiểu cho xuất bản hai tập nghiên cứu: Phê phán văn học Hiện sinh chủ nghĩa, Văn học Công xã Pari. Đứng trên lập trường Mác-xít, xã hội học, Đỗ Đức Hiểu đã phê phán kịch liệt văn học Hiện sinh 19 chủ nghĩa “Phải kịp thời phê phán triệt để, có hệ thống, có khoa học những tàn dư của sự xâm lăng của một trào lưu tư tưởng suy đồi nhập cảng từ phương Tây” [43, tr.
Mặt khác, đối với văn học Công xã Pari, Đỗ Đức Hiểu coi đây là thứ văn học “mầm mống xanh tốt” cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này “Văn học Công xã Pari mở đường mới cho văn học” [38, tr. Sau năm 1986, đặc biệt là kể trừ khi trở về từ Pháp sau khi tham dự hội thảo quốc tế về Stendhal (1783- 1842). Ông là một trong số ít nhà nghiên cứu thấy được sự cần thiết vận dụng thi pháp học phương Tây vào đổi mới nghiên cứu và phê bình văn học. Đỗ Đức Hiểu đã có những sự nhìn lại, nghĩ lại những trang viết trong sự nghiệp nghiên cứu văn học của mình.
Đó là nhìn nhận lại văn học Hiện sinh chủ nghĩa “một thứ văn học suy đồi của Tư sản đang giãy giụa khi đi vào bước đường cùng” [46]. Đặc biệt, trong giai đoạn này, ông cho ra đời ba công trình nghiên cứu có tính chất đột phá trong nghiên cứu và phê bình văn học. Đó là ba cuốn: Đổi mới phê bình văn học (NXB Khoa học Xã hội- NXB Mũi Cà Mau, 1993), Đổi mới Đọc và Bình văn (NXB Hội Nhà văn, 1999) và Thi pháp hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2000). Với ba công trình này, đã có một sự thay đổi lớn trong tư duy nghiên cứu, Đỗ Đức Hiểu bắt đầu ứng dụng lí thuyết thi pháp học vào nghiên cứu và phê bình văn học, những lí thuyết mà trước đây nhà nghiên cứu chối từ, khước bỏ nay ông lại say mê với nó.
Nhưng Đỗ Đức Hiểu không đi sâu vào lí thuyết như một số nhà nghiên cứu, mà nhà nghiên cứu tập trung đi sâu vào phần ứng dụng lí luận vào nghiên cứu-phê bình văn học và đạt được nhiều thành tựu. Ngoài ra, còn phải kể tới những công trình Đỗ Đức Hiểu tham gia biên soạn, Điển tích văn học (1990), Lịch sử văn học Pháp (Đồng chủ biên, 5 tập, năm 1990-1992). Đặc biệt phải kể tới cuốn Từ điển Văn học (2 tập, NXB KHXH, năm 1983). Đây là một cuốn từ điển có giá trị cao trong nghiên cứu 20 khoa học.
Công trình này là kết quả làm việc nghiêm túc của đội ngũ những người biên soạn, trong đó phải kể tới công lao chủ biên của Đỗ Đức Hiểu. Hiện nay, đây vẫn là một cuốn tài liệu khảo cứu quí báu trong nghiên cứu văn học. Với dung lượng kiến thức đồ sộ, ngôn từ hàm súc cô đọng đã thể hiện một diện mạo văn học nhiều vẻ đa dạng của các khuynh hướng, trào lưu, tác giả, tác phẩm của Việt Nam và thế giới Với 50 năm cầm bút, Đỗ Đức Hiểu đã để lại cho giới nghiên cứu và phê bình văn học nước nhà hàng ngàn trang viết tài hoa, tinh tế. Những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu không dừng lại ở số lượng vài nghìn trang viết của mình, mà người đọc, giới nghiên cứu và phê bình tưởng nhớ tới nhà nghiên cứu là những trang viết thăng hoa, những trang văn mộng mơ sâu lắng, một tâm hồn tươi trẻ, một phong cách khoa học được định hình luôn khát khao vươn tới sự thay đổi, thậm chí là thay đổi cả “mẫu gốc”, sáng tạo đổi mới chính bản thân mình để phù hợp với xu thế chung của nhân loại.
Có lẽ người đọc sẽ không bao giờ quên những trang viết mà trong đó là thế giới những ngôn từ “sống động, trẻ trung” của nhà nghiên cứu. Với những thành tựu đạt được, Đỗ Đức Hiểu xứng đáng có một chỗ đứng trang trọng và đáng kính trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Khái niệm về phƣơng pháp luận Mác-xít Sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu, theo chúng tôi có thể được chia thành hai chặng đường lớn: trước và sau Đổi mới (năm 1986). Trước năm 1986, Đỗ Đức Hiểu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu Mác-xít, xã hội học trong nghiên cứu văn học.
Sau Đổi mới (năm 1986), Đỗ Đức Hiểu đi vào vận dụng những thành tựu thi pháp hiện đại của phương Tây ứng dụng vào nghiên cứu văn học. Đây là thứ lí thuyết bị phê phán kịch liệt trong giai đoạn trước năm 1986, nó thiên về nghiên cứu hình thức tác phẩm, đề cao giá trị hình thức nghệ thuật của tác phẩm, ít chú ý tới 21 giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm, chủ yếu khai thác các yếu tố bên trong, nội tại của văn bản. Vấn đề được đặt ra là tại sao trong sự nghiệp nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu lại dường như lại có sự mâu thuẫn nhau, đối lập, phủ định nhau ở hai chặng đường nghiên cứu văn học như vậy. Sự mâu thuẫn này xuất phát từ nhận thức của nhà nghiên cứu, hay xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn lịch sử xã hội nghiên cứu? Sự mâu thuẫn này có phủ định triệt để hoàn toàn những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu? Để đi tìm lời đáp cho những câu hỏi này, chúng ta hãy đặt sự nghiệp của Đỗ Đức Hiểu vào trong chính không gian sinh thành, bối cảnh hình thành những trang viết dường như xa lạ, ngược chiều xuyên suốt cuộc đời nhà nghiên cứu.
Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hôị, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của các điều kiện xã hội. Là một hình thái ý thức xã hôị, vì thế nó cũng chịu sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác và ngược lại. Trong các hình thái ý thức xã hội, chính trị là hình thái ý thức xã hội có vai trò tiên quyết, quyết định các hình thái ý thức xã hội khác, trong đó có văn học. Vì vậy, văn học và chính trị có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau.
Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.