Chương 1: TỔNG QUAN 1. Tình hình sử dụng và nghiên cứu cây có ích trên Thế giới 1. Tình hình sử dụng các nhóm cây có ích trên Thế giới Lịch sử hình thành con người luôn gắn với Thế giới tự nhiên, ngay từ thủa sơ khai họ đã biết khai thácnguồn tài nguyên thực vậtđể phục vụ đời sống của mình. Người dân sử dụng cây cỏ với nhiều mục đích khác nhau như thực phẩm, y học dân tộc, thức ăn gia súc, nhiên liệu, thuốc nhuộm, tannin, sợi, nhựa, sản xuất công cụ công nghiệp và săn bắn.
Trong đó nhóm cây lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là cây thuốc và cây cho hương thơm được coi là một thứ hàng hóa miễn phí được thu thập từ thiên nhiên tại Nepan [53]. Từ ngàn năm trước, gỗ đã được con người sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, chúng không chỉ được sử dụng làm nhiên liệu hoặc vật liệu xây dựng nhà cửa, mà chúng còn được sử dụng để chế tạo những công cụlao động sơ khai, vũ khí săn bắt đơn giản đến những công trình nghệ thuật thậm chí là làm giấy. Gỗ là nguyên, vật liệu được con người sử dụng lâu đời và rộng rãi, là một trong những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Tại Nepan hơn 87% nhu cầu năng lượng của quốc gia được đáp ứng bởi các sản phẩm từ rừng và mỗi người tiêu thụ một mét khối gỗ mỗi năm cho mục đích này [10, 53].
Trên Thế giới, thực vật cho sợi có khoảng 425 loài (chỉ riêng Đông Phi đã thống kê được 352 loài cây cho sợi) thuộc 134 chi trong 41 họ, trong đó có nhiều loài quý được sử dụng gần như toàn cầu, như các loài trong chi bông. Ngoài ra, tùy theo thói quen, các dân tộc còn lấy sợi từ các cây bản địa, như người Philippin dùng cây chuối sợi, người Mêhicô, Giava và châu Phi dùng các loài của chi Thùa, Ấn Độ là trung tâm sản xuất sợi đay, Trung Quốc sản xuất sợi gai, châu Âu sản xuất sợi lanh.Một số loài trong họ gai được sử dụng để lấy sợi vì sợi gai bền, chắc, chịu lực, chịu mặn. Người ta sử dụng sợi gai để sản xuất các loại hàng như dệt vải, may mặc, lưới đánh cá, vải lót lốp xe đạp, ô tô, dây cua roa, chỉ khâu giầy. Sản lượng gai hàng năm trên Thế giới khoảng 130.
Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất khoảng 100.000 tấn, tiếp theo đến Braxin là 16. Ở Việt Nam ngành này không phát triển mạnh mà chỉ là ngành thủ công ở một số ít địa phương [10, 19]. Nguyễn Thị Vân Anh 4 Cây cho nhựa mủ được sử dụng rộng rãi là cây cao su, nó được thổ dân ở châu Mỹ khai thác và sử dụng từ rất lâu đời, nhưng nhựa cao su chỉ được sử dụng đa dạng vào năm 1934, khi người Tây Ban Nha dùng chế ra các vật chống thấm, che mưa. Con người đem hạt trồng rộng rãi khắp các châu lục nhiệt đới (chủ yếu là ở châu Phi và Đông Nam Á).
Cây cao su hiện chiếm vị trí thứ nhất và ngành công nghiệp cao su được xếp vào hàng thứ tư trong nền công nghiệp toàn cầu (sau dầu mỏ, than đá, gang thép) [10]. Cây có dầu thơm được loài người khai thác từ lâu đời, bắt nguồn từ các dân tộc phương Đông. Từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên (TCN), các nguyên liệu dầu thơm lấy từ các cây cỏ đã được người Ấn Độ, Ai Cập sử dụng. Ngoài ra, người Ai Cập cổ đại đã biết dùng tinh dầu và những cây có tinh dầu để ướp xác các vua chúa hoặc làm nước thơm từ 4000 năm trước công nguyên.
Ở Trung Hoa, khi khai quật các ngôi mộ cổthời tiền Hán (có niên đại trên 100 năm TCN) vào nửa đầu thế kỉ XX, người ta đã phát hiện nhiều loại tinh dầu thảo mộc như thông, bạc hà, hoàng đàn. Ngoài ra, trong các gia đình ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và kể cả Việt Nam đã có thói quen dùng tinh dầu làm thuốc hay gia vị [28]. Ngược lại với phương Đông, các dân tộc châu Âu biết đến và sử dụng nguồn tinh dầu rất muộn, nhưng cách sử dụng và nguồn nguyên liệu của họ không vì thế mà nghèo nàn, kém phong phú. Cho đến cuối thời Trung Cổ (TK 14-15) họ mới sản xuất ra được các loại dầu thơm từ cây bách xù, hương thảo, oải hương, thông.
Sau này các dân tộc Bắc Mỹ cũng sản xuất dầu thơm từ cây bạc hà, cam, chanh. Năm 1985, ước tính tổng sản lượng tinh dầu của Thế giới vào khoảng 36.500 tấn (con số này chưa bao gồm nhựa thông, nhựa thông năm 1985 đã có khoảng 250. Năm 1993, sản xuất dầu cam được ước tính khoảng 26. Các cây cho màu dùng để nhuộm cũng được loài người sử dụng lâu đời.
Màu sắc vải nhuộm để cuốn các xác ướp trong các ngôi mộ cổ đã chỉ rõ điều này, thường màu vàng lấy từ đầu nhụy cây nghệ tây, màu đỏ từ hoa cây hồng hoa, còn màu xanh lấy từ cây chàm. Bên cạnh nhuộm thực phẩm, việc tạo màu cho nước uống cũng được chú ý để làm tăng hương vị và giá trị dinh dưỡng. Các loài cây thường được sử dụng để tạo màu cho nước uống gồm: Quả dâu tây (Fragaria), quả sim (Rhodomyrtus tomentosa) và thân gỗ một số loài cây gỗ có màu (Gạc nai, Rè đẹp. Nguyễn Thị Vân Anh 5 Người xưa nói “dân dĩ thực vi thiên” (dân lấy ăn làm trời).
Điều đó muốn nói thực vật là thứ không thể thiếu được trong sinh hoạt con người. Cây ngô là một trong những cây lương thực được loài người sử dụng lâu đời nhất. Các thổ dân châu Mỹ đã gây trồng, chế biến ngô làm lương thực từ trước khi Columbus đặt chân lên châu Mỹ. Con người biết trồng cây lúa mì từ 5.000 năm TCN ở thung lũng sông Nin.
Người Trung Hoa trồng cây lúa mì từ 2. Có 261 loài trong 90 chi và 50 họ thực vật với nhiều loài cho củ trở thành cây lương thực chính như khoai tây, sắn, khoai lang. Người Tây Ban Nha phát hiện ra khoai tây năm 1535, hiện tại khoai tây là một trong bốn cây lương thực quan trọng nhất trên Thế giới. Khoai lang lần đầu tiên được phát hiện trong vùng biển Carribbean, hiện tại nó là một trong 15 cây lương thực và Trung Quốc là nơi cung cấp khoảng 80% khoai lang trên toàn Thế giới.
Sắn là một trong các cây trồng quan trọng nhất tại Nam Mỹ, đây là một nguồn nguyên liệu tuyệt vời vì nó có thể được lưu giữ trong đất nhiều năm sau khi đã trưởng thành [10, 55]. Các loài đậu ăn hạt cũng cung cấp nguồn lương thực vô cùng quý giá cho con người. Những loại đậu ăn hạt phần lớn thuộc phân họ đậu Papilionoideae với 450 chi và hơn 10. Theo thống kê của FAO (1988) từ năm 1889 đến năm 1987 thì sản lượng đậu không có dầu trên thế giới lên tới 39.000 tấn/ năm với diện tích trồng sấp xỉ 57.
Riêng sản lượng đậu tương và lạc lần lượt là 90.728 tấn/ năm với diện tích mỗi loại là 51. Từ thời xa xưa, loài người ra sức tìm kiếm các loài cây hoang dại trong các cánh rừng già phương Đông để phát hiện các sản phẩm nhằm tăng hương vị cho các món ăn đồ uống. Các loài cây làm gia vị trên Thế giới có 213 loài thuộc 83 chi của 31 họ thực vật, trong đó nổi bật hơn cả là cây hồ tiêu, sau đó là cây ớt [10]. Trong lịch sử phát triển các dân tộc, các Quốc gia cũng như sự phát triển của xã hội loài người trên toàn Thế giới gắn liền với lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc.
Cây thuốc là một trong những nhóm tài nguyên thực vật có giá trị quan trọng hàng đầu và đây là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ưu đãi cho mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia. Ngoài việc được ghi chép lại trong sách vở thì y học cổ truyền còn được lưu truyền qua từng thế hệ bằng lời nói và thực hành ở nhiều nơi trên Thế giới. Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc, trong đó có Lô Nguyễn Thị Vân Anh 6 hội, Kỳ nam, Gai đầu. Người Trung Quốc cổ đại đã ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) với 365 vị thuốc và loài cây làm thuốc, người Ấn độ cổ đại đã nghi chép nền y học của các bộ tộc Hindu khoảng 2000 năm trước, trong đó có các loài cây gây buồn ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn.
Trong hệ thống y học của người Trung Quốc, 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực vật bậc cao. Sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nước Châu Á như Hồng Kông, Hàn Quốc, Indonexia, Malaixia cũng như ở Ấn độ, Pakistan, Bangladesh, SriLanka và Nê Pan (Husain, 1991). Tại Nhật Bản, có đến 42,7% dân số sử dụng thuốc cổ truyền trong các hoạt động chữa bệnh với tổng giá trị của y học cổ truyền lên đến 150 triệu USD/ năm (1983) [51].Tại Ấn Độ, có 400 loài trong tổng số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc nhỏ và khoảng 540 loài cây thuốc thường được sử dụng ở các bài thuốc khác nhau trong hệ thống y học Ayuveda, Unani và Siddha. Xuất nhập khẩu cây thuốc của Ấn Độ tăng 3 lần, trong thập niên 90 của thế kỉ XX; doanh thu từ hoạt động buôn bán dược thảo trong nước và xuất khẩu đạt 1 tỷ USD/năm [51].
Trong những năm gần đây, Thế giới đặc biệt chú ý đến cây thuốc và các loại thuốc có nguồn gốc thực vật, do phát hiện ra các tác dụng không mong muốn của nhiều loại thuốc được sản xuất bằng con đường tổng hợp hóa học: hiệu suất nghiên cứu sản xuất thuốc mới từ cây thuốc dân tộc là 1/125, trong khi hiệu suất sản xuất thuốc mới theo phương pháp tổng hợp hóa học ngẫu nhiên là 1/10. Đối với việc sàng lọc các loài cây thuốc kháng HIV hiệu quả sàng lọc từ kinh nghiệm dược học dân tộc là 1/5 trong khi hiệu quả sàng lọc ngẫu nhiên là 1/18 (Bialick Michael J. Chính vì vậy mà nhu cầu của Thế giới về cây thuốc ngày càng tăng cao, kèm theo đó mức độ quan tâm của toàn Thế giới đối với tài nguyên thực vật này càng trở nên sâu sắc và rộng lớn. Theo tài liệu của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như thực vật bậc cao đã biết, khoảng 20.