Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc tại Ngân hàng TMCP Việt Á ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng Chương 3: Hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc tại Ngân hàng TMCP Viét A ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng, 7. Tổng quantài liệu nghiên cứu Liên quan đến nội dung trên đã có nhiều công trình trong và ngoài nước, lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu. Giữa động cơ và động lực thúc đấy có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Do vậy, để có thể đi sâu tìm hiểu động lực thúc đây thì không thể bỏ qua việc tìm hiểu động cơ thúc đây.
Về vấn đẻ này, đã có nhiều thuyết nghiên cứu và đưa ra các quan điểm khác nhau. Ví dụ, thuyết về nội dung của động cơ thúc đây, các thuyết tiến trình về động cơ thúc đây và thuyết tăng cường động cơ. ~_ Thuyết về nội dung của động cơ thúc đây “Thuyết này tập trung phân tích những nhu cầu bên trong của con người, là cái tạo ra động cơ thúc đây con người. Ở bắt kỳ giai đoạn nào thì con người cũng đều có các nhu cầu cơ bản như ăn, sự thành đạt hay tiền bạc.
Những nhu cầu này đã trở thành động cơ bên trong thúc đây nỗ lực hành động theo xu hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu. Từ việc tìm hiểu nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị xây dựng hệ thống phần thưởng trong tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. qua đó tạo động lực làm việc cho người lao động, hướng sự nỗ lực của họ đến việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. ~_ Các thuyết tiến trình về động cơ thúc đầy Các thuyết này giải thích làm thé nào nhân viên lựa chọn các hành vi dé đáp ứng nhu cầu của họ và xác định liệu những lựa chọn của họ có thành công hay không, nghĩa là quan tâm đến tiến trình tư duy của con người.
(Thuyết công bằng của J. Stacy Adams, thuyết kỳ vọng của Victor Vrom) ~ Thụ t ng cường động cơ thúc đẩy “Thuyết này chỉ ra rằng hành vi là một chức năng chịu sự chỉ phối của hậu quả (phần thưởng hay hình phạt). Những hành vi được khen thưởng là những hành vi được khuyến khích lặp lại, còn những hành vi bị phạt là những hành vi cần tránh. Như vậy, lý thuyết tăng cường chú trọng mối quan hệ giữa.
hành vi và kết quả, nó tập trung vào việc thay đổi và sửa chữa hành vi của. nhân viên đối với công việc thông qua việc sử dụng phần thưởng hay hình phạt một cách thích hợp. Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực lao động được đưa ra bởi Maier và Lauler (1973), Bedeian (1993), Kreitner (1995), Higgins (1994) khẳng định tạo động lực cho người lao động giúp cho tổ chức tồn tại và phát triển. Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường.
Quản trị nguôn nhân lực của Trần Kừn Dung tấi bản lần thứ 8 có bỗ sung (2011) đã chỉ rõ những tác động của các công cu tạo động lực thúc đầy đối với người lao động ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào việc tổ chức ấp dụng các công cụ đó như thể nào. Để tạo ra động lực thúc đây cho người lao động làm việc đòi hỏi tô chức phải áp dụng các biện pháp khác nhau để tác đông đến người lao động từ đó tạo ra động cơ thúc đẩy một cách hiệu quả nhất. Do vậy, đòi hỏi tổ chức phải lựa chọn cho mình một hướng tiếp cận nhất định để tạo đông lực thúc đẩy hiệu quả nhất. Theo nhóm tác giả của Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng gồm PGS.TS Lê Thể Giới, TS Nguyễn Xuân Lãn, ThS Nguyễn Phúc Nguyên, ThS Nguyễn Thị Loan, trong tác phẩm * Quản trị học, tái bản lần thứ nhắt, nha xuất bản tài chính, 2007 "có bỗn hướng tiếp cận nhằm tạo ra động lực thúc đẩy người lao động bao gồm: cách tiếp cận truyền thống; mối quan hệ con người với con người: nguồn nhân lực và hiện đại.
Từ đó đòi hỏi người quản lý phải lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của tô chức dé có thể mang lại kết quả cao nhất Bài báo khoa học: “ Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy của Nguyễn Văn Long, Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Bài báo làm nỗi bật vai trò của nguồn nhân lực và việc thúc đây người lao động làm việc hiệu quả là hết sức cần thiết. Quản trị nguồn nhân lực, TS Bài Văn Danh, MBA. Nguyễn Văn Dung, Thể.
Lê Quang Khôi (2011) có giới thiệu các khái niệm và các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực, hướng tiếp cận mang tính ứng dụng, thực hành. Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Nhà xuất bản lao động xã hội. Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền lợi khác của người lao động và người sử dụng lao động. Đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Các giải pháp tạo động lực làm việc.
cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Quân đội ~ Đà Nẵng” của học viên Nguyễn Đức Toàn có các công cụ tạo động lực làm việc như các khuyến khích tài chính ( tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi ); các khuyến khích phi tài chính ( bản thân công việc, môi trường làm việc, công tác đào tạo nguồn nhân lực, đánh giá thực hiện công việc) Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra các đặc tính cơ bản của tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc đó là một sự thỏa mãn và đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của người lao động, khi đó sẽ tạo ra động cơ, động lực thúc đẩy người lao động làm việc. Nam 1969, theo Smith, P.L, trong tác phẩm “The measurement of Satisfaction in work and retirement, Rand Mc Nally, Chicago, USA, 1969”, da chi ra ring thang do céc thành phần trong công việc với chỉ số mô tả công việc ( Job Discriptive Index ~ IDI) bao gồm 5 khía cạnh: Bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiễn lương. Theo Spector trong tác phẩm “Handbook of organizational measurerment, Lowa, USA, 1997", déng co thic diy ngudi lao động trong công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào, vì nó là một sự đánh giá chung về thái độ của người lao động đối với công việc hiện tại. Theo Andew Oswald, trong tác phẩm “Are you Happy at work, 2001”, động cơ thúc đẩy người lao động làm việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu mong muốn, giá trị và tính cách của người lao động thì người lao động càng có động cơ, động lực làm việc càng cao. Bài báo khoa học của Matt Mossbarger and Jason Eddington (2003): Methods for motivating employees”. Bai báo này thảo luận một số khả năng có thể làm động lực thúc đây nhân viên tại nơi làm việc đó là: động lực tài chính và động lực phi tài chính. ‘Tom lai: Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng tạo.
sự hài lòng trên cơ sở đáp ứng được các nhu cầu, mong muốn của người lao đông sẽ tạo động cơ và động lực thúc đẩy người lao động làm việc. Theo đó họ sẽ mang lại lợi nhuận cho tổ chức nhiều hơn. Mặt khác, sự hứng thú đối với công việc phụ thuộc vào nội dung, mức độ phức tạp và cảm giác đạt đến thành công khi công việc được hoàn tắt. CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIỆC 1.
CAC KHAI NIEM CO BAN 1. Động cơ Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích. Vì vậy, trong quá trình lao động các nhà quản lý thường đặt ra các câu hỏi: Tại sao họ lại làm việc? Làm việc trong điều kiện như nhau tại sao người này làm việc nghiêm. túc hiệu quả cao còn người khác thì lại ngược lại?.
Và câu trả lời được tìm ra đó là hệ thống động cơ nhu cầu và lợi ích của người lao động đã tạo ra điều đó. Vậy động cơ là gì? Theo Giáo trình Quản trị học của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, động cơ ám chỉ những nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên tri theo đuôi một cách thức hành động đã xác định.|4] Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chỉ phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau.
Mức độ thúc đầy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tinh hudng khác nhau Đông cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi: Đông cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội. Hơn nữa động cơ luôn biến đôi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đây làm việc để muốn giàu có và muốn thẻ hiện.Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đây đề người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể, môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động. Nhu cầu Nhu cầu có thể được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó.
[7] Nhu cau chưa được thoả mãn tạo ra một tâm lý căng thẳng đối với con người khiến họ tìm cách để thoả mãn nhu cầu đó. Người lao động cũng vay, họ bị thúc đây bởi một trạng thái mong muốn để có thể thoả mãn được những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao. tức là động cơ càng lớn. Nếu những mong muốn này được thoả mãn thì mức.
độ mong muốn sẽ giảm đi. [7] Nhu cdu của người lao động rất phong phú và đa dạng.