CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE DỊCH VỤ VAN TAI HÀNG HÓA HÀNG KHÔNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của vận tải hàng không 1.1 Khái niệm vận tải hàng không Vận tai hang không nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tô kinh tế- kỹ thuật, nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả. Còn theo nghĩa hẹp thì vận tải hàng không là sự đi chuyên của máy bay trong không trung, hay cụ thé hon là hình thức vận chuyền hành khách, hàng hóa, hành lý, bưu kiện từ một địa điểm này đến một địa điểm khác bằng máy bay.2 Đặc điểm của vận tải hàng không Là một trong các loại hình vận tải nhưng do những đặc điểm riêng có nên vận tải hàng không đã tách riêng ra, đứng độc lập như một ngành kinh tế riêng biệt. Vận tải hàng không có những đặc điểm đặc trưng sau: 1.1 Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ đặc biệt, sản phẩm vận tải hàng không mang tinh dong nhất cao San pham vận tai hang không là vô hình do day là một loại hình dich vụ đáp ứng một nhu cau chính của con người là nhu cầu đi lại giữa hai vị trí một cách nhanh chóng, an toàn. Mục đích đi lại của con người có thể đa dạng như đi công tác, đi du lịch, về thăm quê hương, đi chữa bệnh.
Nhưng tựu chung lại các nhu cầu đó đều là nhu cầu di chuyền từ một vị trí đến một vị trí khác. Dịch vụ của vận tải hàng không đặc biệt ở chỗ nó kéo gần hai điểm đó lại nhanh chóng và an toàn bậc nhat trong các loại hình van tải. Ngoài ra, các dịch vụ phụ trợ khác cho khách hàng rất đa dạng và ngày các phát triển từ dịch vụ cung cấp suất ăn, cung cấp chỗ ở tạm thời khi đi và đến, cung cấp các dịch vụ giải trí như xem phim, nghe nhạc, thông tin di động, Internet trong khi ngồi trên máy bay. Sản phẩm của vận tải hàng không có tính cạnh tranh cao giữa các hãng hàng không.
Trong một thị trường mà các hãng hàng không đều kinh doanh một sản phẩm gần như giống nhau tuyệt đối, mỗi một hãng hàng không đều phải tìm cách dé đặc định hóa sản phẩm của mình cho nó khác biệt so với hãng khác.2 Vận tải hàng không có tính quốc tế cao, đòi hỏi một cơ chế quản ly đặc biệt Ngay từ khi mới xuất hiện, vận tải hàng không đã nhanh chóng thoát ra khỏi biên giới một quốc gia. Cùng với sự phát triển, tính chất quốc tế của vận tải hàng không ngày càng thé hiện rõ. Vận tải hàng không liên quan đến các vấn đề chủ quyền quốc gia, không vận và vùng kiểm soát không lưu. Thậm chí, hành khách và hàng hóa cùng xuất phát và đi, đến các quốc gia khác nhau.
Mạng đường bay của các hàng hàng không trong một quốc gia (được coi là tài nguyên trong vận tải hàng không của mỗi quốc gia) thường vươn rộng đến các nước khác trên các châu lục. Chính vì thế, vận tải hàng không liên quan mật thiết đến lợi ích và an ninh của mỗi quốc gia.3 Vận tải hang không có sự thay đổi nhanh về công nghệ Vận tải hàng không là ngành có tốc độ đổi mới công nghệ rat cao, ứng dụng tất cả các thành tựu khoa học, công nghệ mới nhất trên thế giới trong nhiều ngành khoa học kĩ thuật khác như tự động hóa, cơ khí chế tạo máy, khí động học, thông tin liên lạc, viễn thám.Các yêu cầu liên tục thay đôi, bố sung trang thiết bị hiện đại, công nghệ mới gây ra áp lực lớn đối với các hãng hàng không về mặt vốn đầu tư. Hơn 50 năm qua, sự đổi mới trong công nghệ giao thông hàng không đã vượt xa sự đôi mới trong các ngành giao thông khác. Sự đổi mới này tập trung qua sự phát triển của động cơ máy bay.
Lúc đầu, máy bay di chuyên bang động co piston, sau đó là động cơ tua bin cánh quạt và giờ đây là động cơ tua bin phan lực. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, công nghệ sản xuất máy bay chiến đấu tiên tiến lúc đó đã được đưa vào phục vụ ngành dân dụng. Các động cơ phản lực ra đời những năm 60 đã làm kích cỡ và tốc độ máy bay tăng nhanh. Đến đầu những năm 70, tốc độ máy bay tăng không đáng kê vì đã đạt tới giới han tốc độ âm thanh.
Những tiễn bộ khoa học kĩ thuật lúc này tập trung làm tăng kích thước máy bay. Việc tăng tốc độ ban đầu và sau đó tăng kích thước máy bay đã làm tăng hiệu suất máy bay nhiều lần. Chiếc máy bay Boeing 720B ra đời những năm 1960 thực hiện được 11.000 tan-km/gid bay nhưng gan 10 năm sau đó Boeing 747 ra đời đã có hiệu suất gấp 3 lần. Ké từ năm 1970, tốc độ đổi mới công nghệ bị chững lại.
Việc sản xuất chuyển từ máy bay tầm xa sang máy bay tầm trung và tầm ngắn nhưng lại hiệu quả hơn như Boeing 767(B767), Airbus 310 (A310). Những năm 80 đánh dấu sự áp dụng công nghệ tin học vào sản xuất và điều khiển máy bay. Bên cạnh đó xuất hiện xu hướng sản xuất các máy bay động cơ kép như B767 nhưng hiệu suất cao, có khả năng khai thác các tuyến bay tầm trung hoặc xa thay thế các máy bay tầm xa truyền thong là B747. Ngày nay, các nhà sản xuất máy bay lớn như Boeing, Airbus lại tập trung nghiên cứu phát triển và thiết kế các loại máy bay lớn và trung bình với độ an toàn cho môi trường cao hơn ít khí thải hơn và giảm tiếng ồn.
Boeing 787 là một loại máy bay thỏa mãn các điều kiện này.4 Vận tải hàng không có tốc độ tăng trưởng cao trong hoạt động khai thác So với đa số các ngành khác, tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành hàng không là rất cao. Trong 15 năm từ 1955-1969, trung bình mức tăng trưởng hàng năm của các hãng hàng không khai thác thường lệ là 14%. Từ năm 1970, mức tăng trưởng hàng năm đã tụt xuống dưới 10% và trong 10 năm tiếp theo thì chỉ ở mức 8%. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn cao hơn các ngành khác.
Riêng giai đoạn 2001-2005, vận tải hàng không thế giới đối với vận chuyền thường lệ quốc tế tăng trưởng ở mức 4,5%, vận chuyên trung bình đạt 286. Riêng vận chuyển nội địa thường lệ, trong giai đoạn này, vận tải hàng không bình quân chuyên chở được 142.688 triệu tấn hành khách, hàng hóa và bưu kiện trong 1 năm, tăng trưởng ở mức 5%. Như vậy tinh chung ca vận chuyển quốc tế và nội địa các hãng hàng không thường lệ đã chuyên chở trung bình | năm được 428.863 triệu tan —km dat mức tăng trưởng là 4,7%.5 Vận tải hàng không có mức lợi nhuận thấp Mặc dù là một ngành vận tải quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cung cấp dịch vụ cơ bản cho nền kinh tế ngày nay nhưng lợi nhuận của ngành hàng không lại luôn ở mức khiêm tốn. Tính từ năm 1960 trở lại đây, ngành hàng không thế giới trải qua 6 giai đoạn khác nhau về kết quả tài chính: Từ năm 1960 đến năm 1968: Nhờ các thành tựu kỹ thuật, chi phí cho một đơn vị giảm xuống nên mức lãi có tăng đáng kể dù ghế suất bị giảm.
Giá vé trong giai đoạn này cũng giảm nhưng với tốc độ chậm hơn tốc độ giảm chỉ phí. Từ năm 1968 đến năm 1975: vào năm 1968, ghế suất và tải suất đều giảm xuống dưới 50%. Mức chi phí đơn vị lại tăng đã tác động xấu đến kết quả tài chính của ngành hàng không thế giới. Đặc trưng của giai đoạn này là kết quả tài chính nghèo nàn.
Những tác động của công nghệ đối với ngành hàng không là rất quan trọng. Bên cạnh yếu tố công nghệ, tài chính của ngành hàng không chịu tác động rất lớn của yếu tô chi phí nhiên liệu. Cuộc khủng hoảng nhiên liệu vào cuối tháng 10 năm 1973 đã làm cho tài chính của ngành hàng không lâm vào những ngày đen tối. Mức lợi nhuận thấp kỉ lục và hàng loạt hãng hàng không bị phá sản.
Đó là do giá nhiên liệu tăng gấp đôi so với các năm trước cộng với lạm phát tràn lan của nền kinh tế thế giới đã đây chi phí khai thác tăng vọt. Thêm vào đó, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt ở Châu Âu và Mỹ đã làm giảm đáng kể nhu cau đi lại băng đường hàng không trên thé giới. Từ năm 1975 đến năm 1978: So với giai đoạn trước, các hãng hàng không thế giới hoạt động tốt hơn. Giá nhiên liệu và các chi phí khác đã giảm trong khi nhu cầu tăng.
Ghế suất trong giai đoạn này duy trì ở mức 55%. Tuy nhiên, thời kỳ thuận lợi nay không kéo dai. Từ năm 1979 đến năm 1983: Đây là thời kỳ khủng hoảng sâu sắc nhất của ngành hàng không thế giới. Đặc trưng của giai đoạn này là mặc dù ghế suất cao nhất trong vòng 20 năm trở lại đây song các khoản lỗ của các hãng hàng không lại ngày một tăng lên.
Tình hình kinh doanh kém hiệu quả trong giai đoạn này là kết quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng nhiên liệu năm 1978 và mức sinh lợi thấp của nền kinh tế nói chung. Chính ghế suất là triệu chứng khủng hoảng, vì chúng là kết quả của việc ngành hàng không muốn bù dap chi phí bằng việc giảm giá vé dé có khách hàng nhăm tăng ghế suất. Nhưng việc tăng ghế suất không đủ bù dap hoàn toàn chi phí khai thác do giá nhiên liệu tăng nhanh. Năm 1980 gan như toàn bộ các hãng hàng không đều bị lỗ.
Từ cuối những năm 1980 đến năm 2000: Giai đoạn này là bước ngoặt tài chính của ngành hàng không dân dụng thế giới dù mức lợi nhuận chung vẫn thấp. Nhân t6 quan trọng của sự cải thiện tình hình khai thác trong giai đoạn này là giá nhiên liệu đã giảm xuống, nhu cầu đi lại bằng đường hàng không tăng lên do tình hình kinh tế thế giới đã có dấu hiệu khả quan hơn. Một số hãng hàng không trước kia bị thua lỗ nay đột nhiên có lãi, nhất là trong giai đoạn 1987-1988. Song tình hình tài chính vẫn yếu vì xét về tổng thé trong ngành hàng không các hãng đang trong giai đoạn nợ chồng chat.
Những khoản nợ này là do nhu cầu phải bù đắp các khoản lỗ tích tụ từ những năm 1980 và tài trợ cho những đơn đặt hàng mua máy bay mới khi nhu cầu vận tải tăng lên. Người ta đã phải trả những khoản lãi vay lớn cho những gánh nặng nợ nan này.