Chương 1 ~ Cơ sở lý luận: Nêu lên các định nghĩa (chất lượng dịch vụ. sự hài lòng khách hàng): giới thiệu mô hình đánh giá sự hài lòng và các thang đo. B Chương 2 ~ Khảo sắt thực nghiệm mô hình hài lòng của khách hàng DA. khi sử dụng phần mềm kế toán VïetSost 4ccounring: Mô tà mô hình nghiên cứu, là cơ sở quan trọng để thiết kế bảng câu hỏi dùng chỉ nghiên cứu thực nghiệm.
Chương cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu đó. Chương 3 ~ Phân tích kết quả: Trình bày kết quả sau khi nghiên cứu thực nghiệm (nghiên cứu định lượng). Chương trình bảy bảng câu hỏi chính thức, kết quả lấy mẫu, thông kê mẫu, kết quả phân tích dữ liệu. Chương 4 — Rết luận và Đề xuất chính sách: Töm tắt kết quà chính của nghiên cứu, kiến nghị nâng cao sự hài lòng.
Chương cũng trình bày một số khó. khăn, thành công và hạn chế của đề tai. CƠSỞLÝ LUẬN Phân mềm là sản phẩm hay dịch vụ hay vừa là sản phẩm, vừa là dịch vụ ? Đó là tài sản vô hình, đó là hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt, cũng được đóng gói, xua đi bán lại như các hàng hóa thông thường khác. Đó là dịch vụ, trường hợp này: chúng ta sẽ không nhìn thấy trạng thái vật chất của nó như: Thiết kế website, gia công phần mèm, viết chương trình theo đơn hàng, giải pháp phần mêm (từ một phẩm mêm sẵn có (phôi phân mêm) điều chỉnh theo nhủ câu thực tế của khách hang).
Theo Wikipedia, Phan mém như một dịch vụ (SaaS). đôi khi được gọi là “phân mềm theo yêu câu”, là phần mềm được triển khai qua internet hoặc được thiết kế chạy đẳng sau bước tường lửa hoặc máy tính cá nhân. Với SaaS một nhà cung cấp giấy phép ứng dụng cho khách hàng như là một dịch vụ theo yêu cầu, thông qua. Cách tiếp cận này hiện nay được ứng dụng rất rộng rãi thông qua internet.
Theo bài báo được đăng trén Businessweek.com: “Suddenly, Software Isn't 4a Prodwet, It's a Service”, tiêu rất rõ về cách người sử dụng mua phân mềm, ứng. dụng như thể nào. Vậy, phân mềm có thé có nhiều trạng thái khác nhau, phân biệt lúc nào là sản phẩm hay dịch vụ chỉ mang tính chất tương đôi phụ thuộc vào đó là sản phẩm phan mềm (Software program) hay giải phap phin mém (Software application). Trong 4é tài này, tác giả chỉ đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng phần mềm dưới góc độ là một địch vụ.
Dưới đây là cơ sở lý luận của vấn đề nay. Chất lượng dịch vụ: 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ: “Dịch vụ” theo định nghĩa của Heizer và Render (2006) là: “Những hoạt động kinh tế thường tạo ra sản phẩm vô hình (chàng hạn như dịch vụ giáo dục, giải trí, cho thuê phòng, chính phủ, tài chính và y tê)”. Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một địch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg.
Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng chất lượng địch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn như câu của họ. Theo các tác giả Parasuraman, Zeithaml and Bery (1985). “Chát lượng dich vụ” được dịch nghĩ: “Mite a6 dich vụ đáp ứng hay vượt quá mong đợi của khách hang”. Các nhà ngiên cứu chia dịch vụ thành hai thành phần: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng (Gronroos,1984: Mangold & Babaleus.
Chất lượng kỹ thuật đề cập đến chất lượng của dịch vụ, sản phâm trong khi chất lượng chức năng đề cập đến cách thức sin phim, dich vụ được chuyển giao. Theo Kanji et al (1999), phân lớn các định nghĩa chất lượng khi áp dụng cho. dịch vụ đều lây khách hàng làm trung tâm. Lewis and Booms (19§3) cho rằng chất lượng dịch vụ là thước đo mức độ của dịch vụ đáp ứng kỳ vọng của khách hàng đến mite nao.
Theo Cronin and Taylor (1992) chat hrong dich vy là tiền tổ qua trọng của thỏa mãn khách hàng. Sự thỏa mãn khách hàng ảnh hưởng của quyết định sau khi mua, quyét định cảm nhận và quyết định tương lai. Theo Fitzsimmons & Fitzsimmons (2001), một đặc điểm riêng biệt trong vận hành là sự tham gia của khách hàng trong quá trình dịch vụ.1 dưới đây cho thay khách hàng là một đầu vào, được chuyển đôi qua quá trình địch vụ, trở thành đâu ra với một sự hài lòng nhất định. Đối với địch vụ, quá trình là một sản phẩm.
Vì vậy, vai trò của nhà quản lý vận hành dịch vụ bao gồm cả hoạt động sản xuất và tiếp thị trong hệ thông mở có sự 16 tham gia của khách hàng. Vai tò tiếp thị thể hiện trên hai nhiệm vụ chính hàng ngày: (1) hướng dẫn khách hàng đóng vai trò chủ tham gia trong quá trình địch vụ và (2) điềuhòa nhu câu dé thích hợp với khả năng phye vu (Fitzsimmons & Fitzsimmons, 2001).1 ệ thống mở của vận hành địch vụ đam DF hich hing di Bink ge ch bảy tam gis Ff “in se - hả háng-jhà ng c te) em bye io Cries sát maarsce “fag inch ee hang Baye — || xe kamngetees inh L———3 Wan? + = Bee | đhuooát max nhu c = ts -đhái& fore des B iadvcts Bod ste: “Hồng hóa sa bã Hân th Baebes ảnh (Nguôn: Fitzsimmons & Fitzsimmons, 2001) 1. Các nhân tô quyết định chất lượng dịch vụ: Chất lượng địch vụ được đo lường bởi nhiều yêu tổ và việc nhận định chính xác các yếu tô này phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu vẻ van dé nay nhưng sự phổ biến và biết đến nhiều nhất phải nói tới các tiêu chí đánh. giá chất lượng dịch vụ của Prasuraman và các cộng sự.
~ Năm 1985, Parasuraman, Bemy và Zeithaml đã đưa ra 10 nhân tô quyết định. tới chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được, các nhân tô đó bao gồm: tính tiếp cận (access), tinh tin cậy (reliability), hiệu quả phục vụ (responsiveness), năng 17 lực chuyên môn (competenee), tôn trong khach hang (credibility), chat lượng thông tin (communication), phong cách lịch sự (courtesy), sự an toàn (security), tính hữu. ~ Trên cơ sở nghiên cứu về chất lượng dịch vụ và kế thừa các học thuyết của. Parasuram và cộng sự, năm 1990 Johnston và Silvestro đúc kết năm nhân tố khác của chất lượng địch vụ gôm: sự ân cân (helpfulness), sự chăm sóc (care), sự cam kết (commitent), sự hữu ich (functionality) va sy hoàn hao (integrity).
~ Năm 1990, Gronroos đã tiền hành nghiên cứu và đưa ra sáu nhân tô đo lường. chất lượng dịch vụ gồm: chuyên nghiệp và kỹ năng (professionalism and skills), thái va hanh vi (attitudes and behaviour ), khả năng tiếp cận và linh hoạt (accessibility and flexibility), 46 tin cậy và sự tia cậy (reliability and trustworthiness), Dịch vụ phục hồi (service reeovery), danh tiếng và sự tín nhiệm. Tuy nhiên, các nhân tố mà Gronroos đề cập có nhiều điểm trùng với 10 nhân tố quyết định tới chất lượng địch vụ khách hàng cảm nhận. duge, ma Parasuraman, Berry va Zeithaml (1985) da đề cập ở trên.
~ Năm 2001, Sureshchandar et al dua ra năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng địch vụ gồm: yêu tô địch vụ cốt lõi (core service), yếu tô con người (hunxnan elment), yếu tổ kỹ thuật (non-hurman elment), yêu tổ bữu hình (Tangibles) và yêu. tổ cộng đông (soeial responsibility). Sự hài lòng của khách hàng: 1. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng: Sự hài lòng của khách hàng tùy thuộc vào hiệu quả hay lợi ích của sản phẩm, địch vụ mang lại so với những gì mà họ đang ỳ vọng.
Khách hàng có thẻ có những. cấp độ hài lòng khác nhau lêu hiệu quả sản phẩm, địch vụ mang lại thấp hơn so với kỳ vọng, khách hàng sẽ bất mãn. Nếu biệu quả sản phẩm, dịch vụ khớp với các kỳ vọng, khách hàng sẽ hài lòng. Nêu hiệu quả sản phẩm địch vụ mang lại cao hơn cả kỳ vọng, khách hàng sẽ hết sức hài lòng và vui mừng, 18 Thể nhưng, khách hàng hình thành kỳ vọng của họ ra sao? Các kỳ vọng đều dựa trên những kinh nghiệm trước đây của khách bằng Kiến của bạn bè và các thông tin từ nhà tiếp thị.
Nhà cung cấp phải biết thận trọng đẻ đưa ra mức kỳ vọng đúng. Nếu đưa ra mức kỳ vọng thấp, họ có thể làm hài lòng khách hàng thật nhưng. không đủ sức đề thu hút khách hàng. nếu nâng các kỳ vọng lên quá cao, khách hàng có thẻ sẽ bị thất vọng.
đo lường sự hài lòng của khách hàng chỉ e ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh. Do đó, các đơn vị cung cấp phân mềm phải biết tìm hiểu năng suất làm vừa. lòng khách hàng của mình lẫn của đối thủ cạnh tranh. Sự hài lòng của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là yêu tô chính trong sự thành công.
Phân loại sự hài lòng của khách hàng: Theo một số nhà nghiên cứu có thẻ phân loại sự hài lòng của khách hàng thành ba loại và chúng eo sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ: 1. Hài lòng tich ce (Demanding customer Staticfaction): Đây là sự hai lòng mang tính tích cực và được phản hỏi thông qua các nhu câu sử dụng ngày một tăng lên đối với các nhà cung cấp dịch vụ. Đối v ¡ những khách hàng có sự hài lòng tích cực, họ và nhà cung cấp có môi quan hệ ot dep, tin nhiệm với nhau và hài lòng khi quan hệ với nhau. Hơn thế họ cũng hy vọng nhà cung cấp sản phẩm sẽ có đủ khả năng đáp ứng nhu câu ngi cảng cao của mình.
Chính vì đây là nhóm khách hàng dễ trở thành trung thành. Yếu tổ tích cực còn thể hiện ở chỗ, chính từ những yêu cầu không ngừng tăng lên của khách hàng mà nhà cung cấp sản phẩm càng nô lực cải tiền chất lượng sản phẩm ngày càng hoàn. Hài lòng ôn định (Stable customer Staticfaction) Đôi với những khàng có sự hài long én định, họ sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng với những gì đaag điển ra và không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp. sản phẩm, địch vụ.
Nhóm khách hàng này tỏ ra rất đễ chịu, có sự tin tưởng cao đối với nhà cung cấp và tiếp tục sử dụng sản phẩm. Hai long thu déng (Resigned customer Staticfaction) Những khách hàng có sự hài lòng thụ động ít tin tưởng vào sản phẩm, dịch. vụ và họ cho rằng rất khó đẻ nhà cung cấp cải thiện được chất lượng dịch vụ và thay: đổi theo yêu cầu của mình. Họ cảm thây hài lòng không phải vì nhu câu được thỏa mãn hoàn toàn mà nghĩ rằng nhà cung cấp không thê cải thiện tốt hơn nữa.
Cũng cần phải nói thêm rằng ngoài việc phân loại sự hài lòng của khách.