CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VỀ HÀNH VI MUA HÀNG LƯU NIỆM 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Khái iệm hàng lưu niệm Hàng lưu niệm hay sản phẩm lưu niệm là một khái niệm rộng, không có giới hạn cụ thể và thường hiểu là đồ vật được giữ lại để làm kỷ niệm.Theo Swanson et al. (2004), sản phẩm lưu niệm đã tồn tại hàng nghìn năm và khi nao mọi người còn tiếp tục đi du lịch thì sản phẩm lưu niệm sẽ tiếp tục là một phần quan trọng của sự trải nghiệm.
Sản phẩm lưu niệm thường được hiểu gắn liền với hoạt động du lịch vì khách du lịch luôn có nhu cầu lưu giữ kỷ niệm về những nơi mình đến hay làm quả tặng cho người thân.Sản phẩm lưu niệm là một vật thẻ hữu hình có hình dáng cụ thể giúp thể hiện rõ ràng một kinh nghiệm du lịch mà chính du khách muốn lưu giữ (Anderson, 1993). Như vậy, mở rộng nội hàm ở khía cạnh giá trị sử dụng, sản phẩm lưu niệm có thể mang tặng, cũng có thê để trưng bảy và đặc biệt, có thẻ đem bán.Khi đem bán, sản phẩm lưu niệm trở thành hàng hóa. Và dưới góc độ ngành du lịch, sản phẩm lưu niệm được coi là một loại hàng hóa đặc biệt được tạo ra nhằm thu hút sự chú ý và tiêu dùng của khách du lịch. Sản phẩm lưu niệm thường.
được cụ thể hóa bằng các sản phẩm vật chất mang đặc tính văn hóa của địa phương, khu vực hoặc quốc gia. Khi nhắc ến khái niệm “sản phẩm lưu niệm” có nhiều người thường đánh đồng với khái niệm “sản phẩm thủ công mỹ nghệ”, tuy nhiên đây là hai khái niệm khác nhau. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những mặt hàng thuộc ngành nghề truyền thống, được tạo ra bởi những thợ thủ công có tay nghề, được truyền từ đời này sang đời khác. Khác với sản phẩm lưu niệm, trước hết sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một hàng tiêu dùng có thể phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
Tuy nhiên, sản phẩm thủ công mỹ nghệ đại diện cho văn hóa truyền thống nên được người sử dụng cắt giữ, làm quà tặng và khi đó sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang tính chất lưu niệm sẽ trở thành sản phẩm lưu niệm. Còn sản phẩm lưu niệm là những sản phẩm thường không sử dụng. trong đời thường mà đề trưng bảy, cho tặng. 'Có một khái niệm khác thường được nhắc đến cùng với “sản phẩm lưu niệm”, đó là "quà tặng du lịch”.Quả tặng du lịch cũng có thể được gọi là sản phẩm lưu niệm nếu món quả đó được mua ở dạng sản phẩm hàng hóa vật chất trưng bày, có chức năng đáp ứng các thị hiểu cảm nhận/thưởng thức có mục.
dich lau dai của người mua hoặc người được biếu/tặng. Cả sản phẩm lưu niệm và quả tặng du lịch đều là những sản phẩm hàng hóa mang đậm dấu ấn văn hóa, đặc trưng cho điểm đến trong chuyến đi của khách du lịch.Quả tặng du lịch bao gồm các đồ vật để làm kỷ niệm và nhóm các sản phẩm thực phẩm. Ngoài ra, cũng cần phân biệt giữa “sản phẩm lưu niệm với “vật kỷ niệm”. Sản phẩm lưu niệm thường gắn liền với du lịch và được công nhận một cách rộng rãi.Trong khi đó, vật ky niệm chi được thừa nhận bởi người lưu giữ chúng (Gordon, 1986) Như vậy, trong khuôn khổ của luận văn này với giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với khách du lịch, hằng lưu niệm có thể được hiểu là những hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong việc lưu giữ kỹ niệm của điểm đến, mang dấu ấn văn hóa, vật chất và tỉnh thần của điểm đến dự lịch.
Cụ thê tại thị trường hàng lưu niệm thành phố Đà Nẵng, tác giả lựa chọn các mặt hàng lưu niệm thuộc nhóm may mặc, giày da; nhóm vải lụa va thé cam và nhóm thủ công mỹ nghệ làm đối tượng nghiên cứu chính. Đặc điểm của hàng lưu niệm Sản phẩm hàng lưu niệm phải mang tính đặc trưng của khu vực, tức là phải có tính truyền thống, phản ánh được phần nào hình ảnh của khu vực và con người sinh sống nơi đó. Sản phẩm lưu niệm thường được làm thủ công theo phong cách truyền thống rất đậm nét; được sản xuất chủ yếu ở các làng nghề và gắn với những làng nghề đó. Đồ lưu niệm đặc biệt là các đồ thủ công mỹ nghệ có nét riêng.
độc đáo mang đậm dấu ấn của nơi sản xuất. Do vậ nhiều khi tên của sản phẩm luôn kèm theo tên của làng nghề làm ra nó. Ví di lá mỹ nghệ Non Nước, gồm sứ Bát Tràng. Phương thức, quy trình, kỹ thuật sản xuất hàng lưu niệm phần nhiều do cha truyền con nối nên vẫn giữ được phong cách truyền thống.Đây cũng chính là đặc điểm hấp dẫn du khách đặc biệt là du khách quốc tế.Ở các nước có công nghệ hiện đại làm việc với máy móc thì sản phẩm đưa ra hàng loạt khó thấy được những nét khác biệt giữa những sản phẩm.
Còn theo phong cách thủ công thì một loại sản phẩm nhưng không có sản phẩm giống y nguyên, bởi qua các công đoạn sản phẩm vẫn có những nét khác biệt, ít có sản phẩm hàng loạt. Sản phẩm lưu niệm là mặt hàng xuất khẩu tại chỗ bởi vì nó được bán trong nước nhưng khi khách du lịch đến du lịch và mua đỗ lưu niệm đó đã mang sản phẩm ra khỏi biên giới nên sản phẩm bán ra không chịu chỉ phí vận chuyển và thuế xuất cảnh.Đặc điểm này không phải sản phẩm nào cũng có được. Sản phẩm lưu niệm dễ vận chuyển có thể bán được ở nhiều địa điểm như các khu, điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, làng nghề, siêu thị, chợ, cửa hàng lưu niệm. Chính vì thế mà sản phẩm lưu niệm có thể tiêu thụ được một khối lượng sản phẩm lớn và mang lại doanh thu lớn cho ngành du lịch.
Ý nghĩa của hàng lưu niệm. Hàng lưu niệm hàm chứa một ý nghĩa hết sức đặc biệt, không chỉ làm người nhận nhớ người tặng quà, mà còn là sự ghi lại một kỷ niệm và mang thông điệp đặc trưng văn hóa của nơi sản xuất ra nó. Giá trị của hàng lưu niệm el. Giá trị về mặt kinh tế ~ Tạo ra công ăn vii ệc làm cho người dân địa phương.
~ Ôn định cuộc sống và kinh tế của địa phương. ~ Làm tăng doanh thu cho ngành du lịch và nền kinh tế. Giá trị về mặt văn hóa, tỉnh thần ~ Thông qua các mặt hàng hàng lưu niệm, du khách phần nào thấy được hình ảnh con người, đất nước Việt Nam nói chung và bản sắc văn hóa của người Việt Nam nói riêng. ~ Hàng lưu niệm thể hiện sự sáng tạo, tâm huyết của người nghệ nhân, qua đó cho ta thấy được tài năng, khiếu thẩm mĩ cũng như trình độ của người nghệ nhân.
- Hàng lưu niệm được duy trì và phát triển thì các làng nghề truyền thống mới tồn tại và lưu truyền cho đời sau. Khái niệm về hành vi người tiêu dùng. “Thuật ngữ hành vingười tiêu dùng bao hàm ý nghĩa rất rộng.Trong một số trường hợp, hành vingười tiêu dùng là một chủ đề nghiên cứu, hoặc một môn học. Trong một số trường hợp khác, hành vi là những gì khách hàng nghĩ, cảm thấy và hành động.
Trong phạm vi hẹp, khái niệm hành vi được xem là những hành động có thể quan sát hoặc đo lường được (overt consumer bahavior).Do vậy hành vi ở đây được hiểu là một thành phần khác với thành. phần nhận thức va cảm xúc, bởi vì nó thể hiện bên ngoài (mua và sử dụng sản phẩm) và có thể nhận thấy và đo lường trực tiếp. “Theo Kotler (2004), hành vỉ người tiêu dùng là hành động của người tiêu dùng liên quan đến việc mua sắm và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ. Và theo ông, hành vi người tiêu dùng thường phức tạp, không đơn thuần theo một đường thắng.
" “Theo Trần Minh Đạo (2009), hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình điều tra, mua sim, sử dụng, đánh giá cho hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể coi hành vi của người tiêu dùng là cáchthức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra quyết định sử dụng tài sản của minh(tién bạc, thời gian, công sức.) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hoá,dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giá định nghĩa hành vỉ người tiêu dùng là những phản ứng mà các cá nhân biểu lộ trong quá trình ra quyết định mua hàng hóa, dịch vụ. CAC LY THUYET LIEN QUAN DEN HANH VI MUA CUA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng Theo Kotler va Amstrong (2004), nghiên cứu hành vi người tiêu dùng nhằm mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích và thói quen của họ, cụ thể với những nội dung sau: ~ Người tiêu dùng muốn gì? ~ Vì sao họ mua sản phẩm, dịch vụ đó? ~ Tại sao họ lại chọn mua nhãn hiệu đó? ~ Họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào và mức độ mua ra sao? Từ đó, các doanh nghiệp sẽ xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm, dịch vụ của mình.
Kotler đã hệ thống các nhân tố dẫn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng như sau: 12 'Cấc nhân tổ kích thích. Tiệp đen ý thức Phân ứng dip Iai Marketing. Môi trường. Lua chon hàng hóa.
‘San phim | Kinh tế Các đặc tính | Quátrình Lựa chọn nhãn hiệu. Giác |Khoa học-| | của người tiêu| củaquyết | Lựa chọn nhà cungứng Phân phối |kithuật — Ƒ—w đồng.| Lựa chọn thời gian và địa Xúc tiến | Vănhóa điểm mua. “Chính trị Lựa chọn khối lượng Pháp luật. Mô hình hành vi người tiêu dùng.
Các yếu tố ảnh hướng hành vỉ người tiêu dùng. Thực tế chỉ ra rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng quyết định của con người liên quan đến việc mua hàng. Hành vi của người mua hàng không bao. giờ đơn giản; tuy nhiên việc am hiểu hành vi của người mua hàng lại là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với những người làm marketing.
Nhiệm vụ của người làm Marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua. Ta sẽ tập trung vào những đặc điểm của người mua: văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua sắm. Hành vi mua sắm của người tiêu dùng được mô tả qua hình sau: Van hoa Xăng Nom Cá nhân Nén van hot | tham khảo Tuổi và giai đoạn của Tâm lý chu ky sống.