Chương I: Cơ sở lý luận về nghiên cứu sự thỏa mãn trong công việc của. nhân viên Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong cuốn sach Job satisfaction: Application, Assessment, Causes, and Consequences cita Paul E.Spector (1997) có trình bày khái niệm về sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên. Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào.
Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biết thái độ. Cũng trong cuốn sách này Spector có tổng hợp 6 thang đo lường dùng để đo lường sự thỏa mãn trong công việc gồm: nhóm 4 thang đo lường mức độ hài lòng ở từng khía cạnh công việc và nhóm 2 thang đo lường mức độ thỏa mãn chung. Nhóm 4 thang đo về sự hài lòng trong công việc điển hình trên thé giới và được sử dụng khá nhiễu trong các nghiên cứu là: Job Descriptive index — JDI (Smith va ctg, 1969), Job Satisfaction Survey -JSS (Spector, 1985), Minnesota Satisfaction Questionnaire-MSQ (Weiss va ctg, 1967), Job Diagnostic Survey — JDS (Hachman va Oldham, 1975). Tiép theo, nhóm 2 thang đo lường mức độ thỏa mãn chung là: Job in General (JIG) scale (Ironson va ctg, 1989), Michigan Organizational Assessment Questionnaire Satisfaction subscale (Cammann va ctg, 1979) (tham khảo Spector, 1997) Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith (1969), sử dụng 72 mục đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc ở 5 khía cạnh: : (a) Bản chất công việc, (b) Tiền lương; (c) Thăng tiến ; (d) Giám sát ; (e) Đồng nghiệp.
Giá trị và độ tin cậy của JDI được đánh giá rất cao cả trong lý thuyết và thực tiễn (Mayer và ctg, 1995) với trên 50% các bài nghiên cứu được xuất ban là sử dụng JDI. Gần đây, Boeve (2007) đã bồ sung thêm yếu tổ “thời gian công tác tại tổ chức”. Nhược điểm của JDI là không có thang đo tổng thể sự hài long (Spector, 1997). Job Diagnostic Survey (JDS; Hackman, Oldham, 1975) Hackman va Oldham đã đề xuất thang đo đánh giá công việc (đánh giá 5 yếu tố cốt lõi của công việc bao gồm: Sử dụng nhiều kỹ năng - skill variety, Nhận biết công — task identity, Tam quan trong của công việc- task signification, Quyền tự chủ - autonomy, Théng tin phan hồi — feedback), do lường những biểu hiện tâm lý của nhân viên.
Tuy nhién JDS còn có nhiều điểm hạn chế như khó phân biệt được 5 yếu tố “lõi”, chỉ phù hợp với đối tượng là những nhân viên giỏi, thỏa mãn cao, ít nghỉ việc và phù hợp hơn trong hoàn cảnh tái thiết kế công việc và xây dựng chính sách động viên nhân viên (Sharon và Toby, 1998) Minnesota Satisfaction Questionnaire (MSQ; Weiss, Dawis, England & Lofquist, 1967) MSQ kha phd ến vì so với JDI và JSS nó rất cụ thể, dễ hiểu, dễ sử dung cho bat ky tổ chức hay đối tượng nao (Spector, 1997). MSQ sử dụng một trong 2 bảng đo sau: một bảng đo dài gồm 100 mục (phiên bản 1977 và phiên bản 1967) với mỗi khía cạnh sẽ được đo lường bởi 5 biến và một bảng đo ngắn hơn gồm 20 mục (ứng với 20 yếu tố) đánh giá mức độ hài lòng chung về mỗi khia canh (Schmit & Allscheid, 1995). Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của MSQ là bảng câu hỏi quá dài. Nếu dùng hình thức 20 câu hỏi ngắn hơn thì độ sai lệch lớn và không phản ảnh được cảm nhận của nhân viên.
Nghiên cứu ciia Spector (JSS - Job Satisfaction Survey) (1985) Các mô hình trước JSS được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất đều cho kết quả khá thấp chinh vi thé Spector (1997) đã xây dựng một mô hình riêng cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ, gồm 9 yếu tố đánh giá mức độ hài lòng và thái độ như: (1) Lương, (2) Cơ hội thăng tiến, (3) Điều kiện làm việc, (4) Sự giám sát, (5) Đồng nghiệp, (6) Yêu thích công việc, (7) Giao tiếp thông tin, (§) Phần thưởng bắt ngờ, (9) Phúc lợi. Job In General (JIG) Seale bao gồm 18 mục mô tả cảm nhận chung, được đánh giá là một công cụ thích hợp đề đánh giá mức độ hài lòng tổng thể của nhân viên (Spector,1997). Michigan Organizational Assessment Questionnaire Satisfaction Subscale đã sử dụng 3 biến sau để đánh giá mức độ hài lòng chung: (a) Nói chung, tôi cảm thấy hài lòng với công việc; (b) Về tông thẻ, ích công việc mình đang làm; (e) Về tổng thể, tôi thích làm việc ở đây. Độ tin cậy của thang đo được chứng mình thông qua rất nhiều nghiên cứu, các nghiên cứu đều chỉ ra thang đo này có hệ số tương quan cao đối với các biến công việc (Jex & Gudanowski,1992; Spector va ctg, 1988) Trong các thang đo đánh giá ở trên thi thang do JDI la thang do duge áp dụng phô biến nhất trong các nghiên cứu, kể cả ở Việt Nam.
Trong nghiên cứu “The measurement of organizational commitment and job satisfaction in a Vietnamese context” (Do lường cam kết đối với tổ chức và mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện của Việt Nam) International conference in management education (Ho Chi Minh City, Sep, 7-8th, 2005), tac gia Trần Kim Dung và đồng sự đã sử dụng Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith và đồng nghiệp. Tuy nhiên, ngoài năm nhân tố được đề nghị trong JDI, tác giả đã đưa thêm hai nhân tố nữa là phúc lợi công ty và điều kiện làm việc để phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam- chi mô tả công việc điều chỉnh AJDI (Adjusted Job Descriptive Index). Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm kiểm định giá trị các thang đo JDI cũng như là xác định các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến mức độ thỏa mãn trong công việc của nhân viên ở Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu khác về sự thỏa mãn trong công việc ở Việt Nam đều áp dụng thang đo JDI và nghiên cứu của Trần Kim Dung để là cơ sở đưa ra mô hình cho nghiên cứu của mình, như: Nghiên cứu của TS.
Lê Kim Long và ThS. Ngô Thị Ngọc Bích, “Đo lường sự thỏa mãn công việc của người lao động tại công ty TNHH MTV cấp thoát nước Kiên Giang” có đề cập đến 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc là: Lương và phúc lợi công ty; Cơ hội đào tạo và thăng tiến; Quan điểm và thái độ của cấp trên; Mối quan hệ với đồng nghiệp; Đặc điểm công việc; Điều kiện làm việc. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2012) “Nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên tại Eximbank Chi nhánh Đà Nẵng” đề cập đến 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên: Công việc; Đảo tạo thăng tiến; Lãnh đạo; Đồng nghiệp; lương; Phúc lợi; Điều kiện làm việc Ngoài ra, trong các nghiên cứu nêu trên còn đề cập đến sự tác động của các đặc tính cá nhân đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên như: giới tinh, độ tuôi, trình độ học vấn, thâm niên công tác. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1.
TONG QUAN VE SU’ THOA MAN TRONG CONG VIEC CUA NHAN VIEN 1. Khái niệm Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kẻ đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và đồng sự, 1960). Tác giả cho rằng, việc đo lường sự thỏa mãn công việc bằng hai cách: (a) đo lường sự thỏa mãn công việc nói chung và (b) đo lường sự thỏa mãn công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. Ông cũng cho rằng sự thỏa mãn công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khía cạnh khác nhau, mà sự thỏa mãn công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng.
Theo Speetor (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến vẻ thái độ. Con Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao.
Sehemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Tác giả nhắn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, va các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình.
Nhu vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công, việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có sự thỏa mãn công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoái mái, dễ chịu đối với công việc của mình. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự thỏa mãn công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công, trình nghiên cứu của họ. Phần tiếp theo sẽ đề cập đến các lý thuyết cùng với các nghiên cứu thực tiễn liên quan đến sự thỏa mãn công việc. Lợi ích của việc xây dựng và duy trì sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Lợi ích đối với tô chức của việc xây dựng và duy trì sự thỏa mãn trong.
công việc của nhân viên trong bối cảnh ngày nay : ~ Về mặt doanh thu, các nhân viên đạt được sự thỏa mãn trong công việc có khuynh hướng làm việc tốt hơn cả những gì khách hàng mong đợi và luôn có tỉnh thần làm việc cao ở khả năng tốt nhất của họ. Cả hai đặc điểm này đều rất quan trọng trong việc giữ lại cho công ty những khách hàng trung thành và đem về doanh thu cao.