CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP GIAO NHẬN VẬN TẢI 1. Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia.
Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất phát từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Lý thuyết cạnh tranh cổ điển ra đời gắn với sự hình thành chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển vào thế kỷ XVII ở Anh và đạt đến đỉnh cao với sự xuất hiện học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển hơn 100 năm sau đó. Đại biểu xuất sắc của lý thuyết cạnh tranh cổ điển là các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith ( 1723 – 1790), Jonh Stuart Mill ( 1806- 1873) và các nhà kinh điển như C. Trong lý thuyết cạnh tranh của mình, Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực của sự phát triển kinh tế nói chung cũng như từng mặt cụ thể như lao động, tư bản.
Lý luận cạnh tranh của C.Mác gắn với học thuyết giá trị thặng dư, đặt trong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh. Trong lý luận cạnh tranh của mình, Mác chỉ ra rằng cạnh tranh kinh tế là sản phẩm của kinh tế hàng hóa và cạnh tranh là một quy luật cùng tác động với quy luật giá trị thặng dư, lấy quy luật giá trị làm tiền đề. Ông cũng chỉ rõ cạnh tranh kinh tế có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, cạnh tranh có tác dụng điều tiết, phân phối các yếu tố sản xuất, kích thích lực lượng sản xuất phát triển, đào thải cái lạc hậu, cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trị thặng dư tương đối, cạnh tranh thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất, cạnh tranh là cơ chế điều tiết, phân phối lợi nhuận.
Về mặt tiêu cực, cạnh tranh trong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do vô chính phủ có thể 4 dẫn đến phân phối lao động và các yếu tố sản xuất bất hợp lý, thậm chí dẫn đến khủng hoảng kinh tế [1, tr. Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn với kinh tế học tân cổ điển ở các nước phương Tây cuối thế kỷ XIX – chủ nghĩa nghiên cứu các hành vi kinh tế, lý thuyết sản xuất và phân phối ở cấp độ vi mô trong điều kiện chủ nghĩa tự do kinh tế chiếm ưu thế áp đảo, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trường phái cạnh tranh hoàn hảo như W.Walras… lý thuyết cạnh tranh của trường phái này dựa trên cơ sở thị trường tự do và cạnh tranh hoàn hảo (thị trường tự động điều chỉnh, không có độc quyền và các chủ thể tham gia thị trường đều có đủ thông tin như nhau). Trong điều kiện đó, sản xuất được điều khiển bởi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất tới điểm tối ưu, tại điểm mà doanh thu biên ngang bằng với chi phí biên, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển chứng minh một cách rất kỹ lưỡng về tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và rất có ích về mặt phân tích kinh tế, đặc biệt ở cấp độ vi mô. Tuy nhiên lý thuyết này phân tích phân phối nguồn lực ở trạng thái tĩnh, không làm rõ được các vấn đề trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo (có độc quyền).
Lý thuyết cạnh tranh hiện đại được hình thành từ giữa thế kỷ XX đến nay, gắn với tên tuổi nổi tiếng như E. Robinson, Micheal Porter … lý thuyết cạnh tranh hiện đại gắn liền với kinh tế thị trường hiện đại từ giữa thế kỷ XX đến nay. Do vấn đề cạnh tranh đã được nghiên cứu khá kỹ bởi nhiều học giả trong các giai đoạn trước đó nên các học giả này không đi sâu nghiên cứu lý luận về cạnh tranh thuần túy mà chú trọng hơn việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh và việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Có thể tóm lược một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại như sau: - Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong kinh tế thị trường 5 - Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến tranh giành, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn. Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát động quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. - Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ lẫn nhau.
- Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại không phải chủ yếu là tiêu diệt, triệt hạ lẫn nhau, mà trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản. Từ đó, một khái niệm cạnh tranh có thể đưa ra là: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi [3, tr. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá 6 phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp. Hạn chế của trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, các yếu tố duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trược sự tấn công của các doanh nghiệp khác.
Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới. Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật ngữ chính sách thương mại (1997). Theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp " không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế". Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính định tính, khó có thể định lượng được.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh [11, tr. Tuy nhiên các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: " Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ 7 cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững" Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù của khái niệm như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình.
Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý các vấn đề sau đây: Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ.