Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về dé tài và mục tiêu nghiên cứu. Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm, các mô hình tham khảo và các nghiên cứu trước đây. Từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tái sử dụng dịch vụ đặt chỗ taxi, cùng với các giả thuyết được đề nghị.1 Công nghệ tự phục vụ (SSTs) Thị trường truyền thống (marketplace), nơi diễn ra giao dịch trực tiếp giữa một khách hàng và một nhân viên công ty đang dan được thay thế bởi các thị trường ảo (marketspace). Thị trường ảo là nơi diễn ra các giao dịch thông qua các kênh điện tử mà không yêu cầu sự hiện diện hữu hình của cả người mua và người bán (Meuter và cộng sự, 2003).
Meuter và cộng sự (2000) định nghĩa dịch vụ sử dụng công nghệ tự phục vụ (SSTs) là phương thức mà khách hang sử dụng dịch vụ của công ty thông qua công nghệ mà không cần tương tác trực tiếp với nhân viên. Dau tiên, Meuter và cộng sự (2000) cho rằng sự phát triển của SSTs là do công nghệ đang dan thay thé các dịch vu như thanh toán, trả lời các câu hỏi thường gặp, các dịch vụ cung cấp thông tin. Thứ hai, các nhu cầu tự phục vụ của khách hàng được phát triển nhanh chóng thông qua các công nghệ cho phép khách hang tự học cách sử dụng công nghệ, tự tìm kiếm thông tin, tự học hỏi, và tự cung cấp dịch vu cho chính mình. Ví dụ như các phim quảng cáo ngăn hướng dan sử dụng sản phẩm, các hệ thống trả lời tự động từ tổng đài cho các câu hỏi thường gặp.
Dựa trên các tài liệu khoa học, các báo cáo thương mại, quá trình quan sát và quá trình làm việc với các công ty, Meuter và các cộng sự (2000) đã tông hợp các loại hình SSTs theo hai tiêu chuẩn: giao diện và mục đích, được trình bày trong bảng dưới đây.1 Danh mục các dịch vụ sử dụng công nghệ tự phục vụ (Meuter và cộng sự, 2000, p. Giao diện | Tương tác với hệ thông Tương tác Các quây tương Video/CD trả lời tự động online/Internet tác (Interactive (Telephone/ Interactive Kiosks) Muc dich Voice Response) Dich vu e Telephone banking e Theo dõi don e ATMs khách hàng | e Thông tin chuyến bay hàng (Package e Trả phòng (Customer (Flight information) tracking) khách sạn Service) e Tình trang đặt chỗ e Thông tin tài (hotel checkout) (Order status) khoản (Account information) Cac giao dich e Telephone banking e Mua hang truc e Thanh toan tién Transactions) | e Mua thuốc theo toa tuyến (Retail xăng tại chỗ bằng điện thoại purchasing) bằng thẻ tín (Prescription refills) e Các giao dich tài dụng (Pay at chính (Financial the pump) transations) e Tra phòng khach san (hotel checkout) e Cho thué xe (Car rental) Tự phục vụ | s Cung cấp thông tin e Tìm kiếm thông | ® Máy đohuyết | ®Phần mềm (Self-Help) qua điện thoại tin trên internet áp tự động hướng dẫn (Information (Internet (Blood pressure đóng thuế telephone lines) information machines) (Tax search) e Quay thông tin preparation e Dao tao từ xa du lich (Tourist software) (Distance information) e Hướng dẫn learning) qua tivi/ đĩa CD (Television/C D-based training) Lợi ích của các doanh nghiệp khi lựa chọn các loại hình công nghệ tự phục vụ chính là tăng năng suất và tiết kiệm chi phí, đồng thời trở thành một trong những chia khóa dẫn đến thành công dai hạn cho doanh nghiệp (Lin & Hsieh, 2007). Vai trò của công nghệ áp dụng trong dịch vụ chăm sóc khách hàng ngày nay đã tạo ra những thay đổi đáng ké cả về phía công ty và khách hàng.2 Dịch vụ đặt chỗ taxi (e-taxi reservation service) Dịch vụ đặt chỗ taxi là dịch vụ cung cấp giao diện tương tác trên nên tảng Internet bang cách kết nối các hãng taxi truyền thông với khách hang qua thiết bi di động, hoặc kết nối giữa lái xe nói chung và hành khách với nhau (Cục Thương mại điện tử và Cong nghệ thông tin, Bộ Công thương (VECITA), 2014). Xe của các hãng taxi trực tuyến thực chất là những người có sở hữu ô tô, trong những lúc rảnh rỗi, họ trở thành tài xế taxi.
Các tài xế phải đăng kí với hãng xe trước, được trải qua một cuộc tập huấn và trở thành lái xe taxi cho các hãng này. Hiện trên thị trường có 3 nhà cung cấp dịch vụ đặt chỗ taxi, gồm Uber Taxi, Easy Taxi va Grab Taxi. Su khác biệt về nội dung dịch vụ của các hãng taxi này được trình bày trong bảng dưới đây.2 So sánh nội dung dịch vụ của các hãng cung cấp dịch vụ đặt chỗ taxi tại Việt Nam (VECITA, 2014) Tiêu chí Uber Taxi Easy Taxi Grab Taxi , Thang 02/2014 tai Ba mắt thị |1606/2614 Tp.HCM Tháng 02/2014 trường me 2016 Uber Tháng 06/2014 tai | 13/06/2014 Hà Nội Hà Nội Hệ điều hành |. 1OS, Android iOS, Android, Winphone 10S, Android, hoặc gọi điện đên tông P đài nhờ đặt xe herenh Tiền mặt hoặc thẻ Tién mặt hoặc thẻ Tiền mặt hoặc thẻ toán Visa Visa Visa Cước gọi xe: 5,000 đồng Gia cước tính theo quãng đường đi được Gia cước phụ thuộc | Giá cước phụ thuộc Cơ so tinh | nhân với giá cước cua vào loại xe và sO km | vào loại xe và sô gia cudc xe di, nhân với hệ số điều chỉnh (phụ thuộc di xe km đi xe vào loại xe, thời diém bắt xe, thời gian ngôi trên xe) Công cu GPS, sô tiên được GPS, sô tiên được GPS, sô tiên được , 5 x.
tính tiên tính toán trước khiđi | tinh. toán trước khi tính , toán trước khi xe di xe di xe Dung trén quan điểm khách hàng, dịch vụ đặt chỗ taxi, cũng như những SSTs khác, được Lin & Hsieh (2007) cho rang sé khién cho người dùng hòa nhập vào dịch vu với những sự lựa chọn linh hoạt hơn về thời gian và kế cả không gian, và theo nhiều cách thức khác nhau, đối với dịch vụ đặt chỗ taxi, là các giao diện tương tác trên điện thoại thông minh. Điều này không chỉ tăng hiệu suất và hiệu quả cho những nhà cung cấp dịch vụ, mà còn cho phép khách hàng bước lên một tầm cao mới về sự thỏa mãn.3 Sự san sàng công nghệ (Technology Readiness) Sự sẵn sàng công nghệ của một người là xu hướng muốn năm bắt và sử dụng những công nghệ mới nhằm đạt được mục tiêu trong cuộc sống cũng như công viéc (Parasuraman, 2015). Parasuraman và các cộng sự (2000) đã sử dụng 36 biến quan sát và chia sự sẵn sàng công nghệ thành bốn thành phân đại diện cho bốn đặc điểm phố biến của mỗi cá nhân, trong đó hai thành phần đầu tiên đóng vai trò như các động lực, và hai thành phân sau đóng vai trò như các thành phần gây ảnh hưởng tiêu Cực.
Đầu tiên, sự lạc quan (optimism) là quan điểm tích cực về công nghệ, bao gom niém tin rang việc sử dung công nghệ sẽ làm tăng sự kiểm soát, sự linh hoạt và hiệu suất làm việc (Parasuraman, 2000). Sự lạc quan thé hiện thái độ tích cực của khách hàng rằng các công nghệ mới sẽ cho phép họ khả năng kiểm soát và linh hoạt tốt, sự tiện 10 lợi và hiệu quả trong cuộc sông. Một khách hàng nêu cảm thây lạc quan vê công nghệ thi sẽ san sàng học cách sử dụng công nghệ mới và tận hưởng cảm giác được kiểm soát công nghệ và áp dụng hiệu quả vào công việc (Oh và các cộng sự, 2014). Thứ hai, sự đổi mới (innovativeness) là xu hướng muốn là người đầu tiên được sử dụng công nghệ mới (người tiên phong.
người dẫn dau) (Parasuraman, 2000). Oh và các cộng sự (2014) cho rằng sự đôi mới ở mỗi cá nhân thé hiện qua việc họ sẵn sàng thử nghiệm một công nghệ mới. Một khách hàng hứng thú với những sáng tạo công nghệ sẽ thích thú học hỏi cách sử dụng công nghệ mới, và hiểu cách sử dụng chúng một cách dễ dàng mà không cần đến sự trợ giúp của người khác, và đôi khi họ còn đưa ra lời khuyên cho những người khác về cách sử dụng những công nghệ mới đó. Thứ ba, sự không thoải mái (discomfort) là quan điểm của khách hàng cho rang rất khó để kiểm soát được công nghệ và cảm thay bị công nghệ lan át (Parasuraman, 2000).
Sự không thoải mái khi sử dụng công nghệ không chỉ ảnh hưởng tiêu cực lên sự chấp nhận sử dung dịch vụ đó mà còn ảnh hưởng tiêu cực lên trải nghiệm khi sử dụng công nghệ đó (Liljander et al. Meuter và các cộng sự (2000) cho rằng sự lo lang vé công nghệ không chỉ có tác động tiêu cực lên sự chấp nhận sử dụng các dịch vụ tự phục vụ và còn tác động tiêu cực lên trải nghiệm của người dùng có được trong khi sử dụng các dịch vụ tự phục vụ dựa trên nên tảng công nghệ. Thứ tư, sự không an toàn (insecurity) thé hiện khách hàng có ít niềm tin vào công nghệ và nghi ngờ về khả năng hoạt động của công nghệ đó (Parasuraman, 2000). Một khách hàng sẽ cảm thấy không an toàn về công nghệ đó khi họ cho răng các thông tin cá nhân của họ cung cấp cho công ty sẽ không được an toàn và có thé bị đánh cắp trong quá trình diễn ra các giao dịch trên các không giao ảo.
Sự lạc quan và sự đổi mới là hai yếu tố đo lường sự tích cực của TR, chúng khuyến khích khách hàng sử dụng sản pham/dich vụ có su hỗ trợ của công nghệ và có thái độ tích cực đối với công nghệ đó. Trong khi hai yếu tố là sự không thoải mái va sự không an toàn lại thể hiện thái độ tiêu cực, khiến khách hàng giảm ý muốn chấp nhận một công nghệ mới. Môi khách hàng khác nhau có quan điêm về bôn yêu tô 11 này khác nhau, nhưng không phải là thước đo để cho rằng một người có sử dụng công nghệ đó hay không.4 Sw hài long (Satisfaction) Đã có rat nhiều các nghiên cứu tập trung vào phân tích sy hài lòng của khách hàng. Lin và các cộng sự (2007) cho rằng sự hài lòng đối với một nhà cung cấp dịch vụ là sự “đánh giá về cảm xúc”, nó phản ánh mức độ một khách hàng tin rằng sự sở hữu hay trải nghiệm dịch vụ tạo ra những cảm nhận tích cực.
Lin và các cộng sự (2007) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ là kết quả trực tiếp của việc trải nghiệm của họ trong quá trình dịch vụ đó. Meuter và các cộng sự (2003) dé nghi rang những sự lo lang khi sử dung công nghệ sẽ anh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng SSTs.