Chương I: Một số vấn đề lý luận về công tác trả lương cho người lao động. Chương 2: Thực trạng công tác trả lương cho người lao động tại Công ty Điện lực Bình Định Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác trả lương cho người lao động tại Công ty Điện lực Bình Định. TONG QUAN TAI LIEU NGHIÊN CỨU Lý luận về tiền lương đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu, dau 1a W. Chinh William Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết "quy luật sắt về tiền lương".
Lý thuyết mức lương tối thiểu phản ánh trình độ phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản. Đề cập đến vấn đề thu nhập của người lao động, W. Petty khẳng định: “luật pháp chỉ phải đảm bảo cho người làm việc phương tiện để sống, bởi vì nếu cho phép họ nhận được gấp đôi, thì họ sẽ làm việc ít hơn hai lần sức mà họ có thể và đáng làm, và điều đó đối với xã hội có nghĩa là làm mắt đi một lượng lao động”. Tuy nhiên từ lý luận này ta thấy được là, công nhân chỉ nhận được từ sản phẩm lao động của mình những tư liệu sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra.
Phần còn lại đã bị nhà tư bản chiếm đoạt. Điều này, trong Mac & P.Ang-ghen toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật năm 1995, Mac đã viết “Đó là mầm mống của sự bóc lột”. Cũng trong tác phẩm này, lý luận tiền lương của Mác đã vạch rõ “bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản đã bị che đậy ~ tiền lương là giá cả của lao động” và những luận điểm của Mác về tiền lương vẫn còn giá trị đến ngày nay. Hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều biện pháp đề khai thác nguồn nhân lực tại doanh nghiệp mình. Theo giáo sư Pham Minh Hạc viết trong Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá — 2001, “nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó”. Tuy nhiên, theo PGS.TS Võ Xuân Tiến, trong Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại hoc Da Nẵng số 5(40)-2010: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thê lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tô chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định”. Ngoài ra, vấn đề về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực cũng được đề cập đến trong các giáo trình như: Giáo trình Kinh tế Nguôn nhân lực-PGS.TS Trần Xuân Câu và PGS.TS Mai Quốc Chánh (2008), NXB Đại học Kinh tế quốc đân, Hà Nội; Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực - Thể.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2007), NXB Dai học Kinh tế quốc dân, Hà Nội; TS. Nguyễn Quốc Tuần (2006) với Giáo trình Quản tị nguồn nhân lực, NXB Thống kê. Công tác tiền lương được nhiều doanh nghiệp sử dụng làm đòn bẩy kích thích phát huy mọi tiềm năng của người lao động.Nguyễn Thanh Liêm đã viết trong Quản trị sản xuất và tác nghiệp, NXB Giáo duc, 1999: “ Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hoá này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng.
Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn, kĩ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường”, như vậy tiền lương là một trong những đầu ra của quá trình sản xuất trong một doanh nghiệp. PGS,TS Võ Xuân Tiến đã viết trong Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại học Đà Nẵng số 5(40)-2010: “Con người sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau. Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu xã hội và cũng có thể là nhu cầu hoạt động, làm việc.
Đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong những điều kiện nhất định. Động cơ là cái có tác dụng chỉ phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Đó chính là sức mạnh bên trong thúc. đây con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu.
Như vậy, động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuôi mục tiêu của tổ chức để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân. Những động cơ làm việc cá nhân phục vụ mục tiêu chung, có lợi cho tổ chức, cho xã hội, đem lại những điều tốt đẹp cho mọi người được xem là những động cơ trong sáng, tốt đẹp”, muón vậy: “Trong các cơ. quan vốn đã có một đội ngũ lao động thì việc thiết kế công việc, bố trí đúng người, đúng việc là đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối với các nhà quản lý” và “chế độ đãi ngô, khen thưởng. Phần thưởng cho người lao động phải công bằng.
Mọi người mong muốn sự công bằng trong đánh giá năng lực thực hiện công việc và phần thưởng họ được nhận. Sự công bằng không chỉ thể hiện ở phần thưởng mà người lao động được nhận mà người lao động nhận được phải phù hợp với những đóng góp, cống hiến của họ, mà còn phải phù hợp giữa phần thưởng của các cá nhân với nhau. Nếu không, phần thưởng sẽ không tạo ra được những động viên, khuyến khích”. Trong giáo trình Phán tích hiệu quả hoạt động kinh doanh II- NXB Giáo dục,Năm 2001 của GS.
Trương Bá Thanh cũng đã đề cập đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu lợi nhuận thu được, chỉ tiêu chi phí tiền lương của doanh nghiệp. Với chủ đề về hoàn thiện công tác trả lương cho người lao động cũng. có nhiều đề tài nghiên cứu như: Hoàn thiện công tác trả công lao động ở các công ty điện chiếu sáng của tác giả Vồ Văn Đào (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2001); Hoàn thiện công tác trả công lao động ở Công ty dệt may Hòa Thọ của tác giả Nguyễn Hai (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Đại học Đà Nẵng 2004); Hoàn thí công tác trả lương cho người lao động tại Xí nghiệp Mây tre lá xuất khẩu Âu Cơ huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam của tác giả Nguyễn Đình Thường (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2009); Hoàn thiện công tác trả lương cho người lao động tại Ban quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng của tác giả. Hồ Thị Thanh Thảo (Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Đại học kinh tế Đà Nẵng năm 2010), các công trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác trả lương, phương pháp.
nghiên cứu cụ thể và những giải pháp dựa trên nhưng lý luận tương đối logic. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến quy trình xây dựng hệ thống trả, chưa sử dụng đến các phương pháp phân tích, định giá công việc là những phương pháp hay và phô biến hiện nay. Tạp chí Hội Điện lực với bài viết Nghiên cứu lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện lực Việt Nam, 2004; Đề án tổng thẻ sắp xếp đổi mới và phát triển các doanh nghiệp của Tổng Công ty Điện lực Ưiệt Nam giai đoạn 2004-2010-2004 của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã đề cập đến sự thay đổi cơ cấu ngành điện và xu hướng phát triển của ngành. Ngoài ra, nguồn tài liệu nội bộ là những tài liệu quan trọng thể hiện một cách cụ thể, sinh động nhất hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty.
CHUONG 1 NHUNG LY LUAN CO BAN VE CONG TAC TRA LUONG CHO NGUOI LAO DONG 1. TONG QUAN VE TIEN LUONG CHO NGUOI LAO DONG 1. Một số khái niệm a. Nhân lực và nguồn nhân lực Bao gồm tắt cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, kế cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp, tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Có nhiều quan niệm về nhân lực: “Nhân lực là sức lực con người, nằm. trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thẻ con người và đến một mức độ nào. đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động.” [2] Nhân lực cũng có thể hiểu là nguồn lực của con người, bao gồm: thể lực và trí lực.
“Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể , nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.” [3] và “Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách.của từng con người” [3]. “ Nguồn nhân lực - nguồn lực quí giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình.
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.[4] Vậy có thể nói: “ Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất ¡nh.”[10] Khi nói ến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cất , sự đáp. ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động.