Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đào tạo nguồn nhân lực trong tỗ chức Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực của Công ty công trình Đô thị Đà Nẵng Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào nguồn nhân lực của Công ty công trình Đô thị Đà Nẵng 6. Tong quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều giáo trình, tài liệu đào tạo nguồn nhân lực nói chung. Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tác giả đã tham khảo các tài liệu giáo trình sau: - Cuốn sách Quản trị nguồn nhân lực, tác giả: PGS. Tran Kim Dung: NXB tổng hợp TpHCM.
Cuốn sách giới thiệu tổng quan về nguồn nhân lực. Nội dung sách có mười hai chương và chuong VII: “ Đào tạo và phát triển”, chương này đã trình bày một cách rõ ràng về nội dung, tiến trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cuốn sách chưa nêu về hệ thống lý luận của đào tạo nguồn nhân lực. - Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB trường đại học kinh tế quốc dân, do Ths.
Nguyễn Văn Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân đồng chủ biên xi it bản năm 2010: có nêu hệ thống lý luận đào tạo nguồn nhân lực theo các yếu tố cơ bản, đó là: Xác định nhu cầu đào tạo; chọn lựa phương pháp đào tạo; đánh giá hiệu quả đào tạo. Giáo trình này cũng chưa bàn về hệ thống lý luận chung về đào tạo nguồn nhân lực. Tài liệu Human Resource Management, do Raymond J. Stone biên soạn năm 2010, NXB John Wiley & Sons Australia, Ltd, tại chương 9 tài liệu đã đề cập đến tiến trình đào tạo nguồn nhân lực một cách tương đối và toàn diện.
Khái iệm đào tạo được nêu rõ ràng, các nội dung của tiến trình này mô tả cụ thể. Ngoài ra, tác giả cũng đã tham khảo các đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp đó là: - * Công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty cô phần đầu tư và sản xuất Việt Hàn”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Lâm Bảo Khánh, Năm 2012, Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Bùi Quang Bình. Trong khuôn khổ phạm vi và mục đích nghiên cứu, tài đã hệ thống được một khối lượng kiến thức khá đầy đủ về các lý thuyết trong quản trị nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp. Xây dựng các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đi đôi với đề ra phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Việt Hàn.
- “ Đào tạo nguồn nhân lực tại văn phòng Ủy ban nhân din Tinh Dak Lak “, Luan văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Năm. Trong khuôn khổ và phạm vi và mục đích nghiên cứu, đề tài đã giải quyết được những vấn đề hệ thống lý luận cơ bản về đào tạo nguồn nhân lực. Mô tả và phân tích thực trạng nguồn lực, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực trong văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh Đăk Lak da thực hiện trong thời gian qua, đưa ra những điểm yếu điểm mạnh trong việc thực hiện các chính sách thu hút nhân tài, đào tạo nhân lực cho công ty và lý giải nguyên nhân thực hiện các chính sách đó chưa hiệu quả, xây dựng các chương trình đào tạo nguồn nhân lực. Sau khi khảo sát các nghiên cứu trên về để tài đào tạo nguồn nhân lực tôi rút ra được các kết luận sau: - Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu và tổng hợp được.
một hệ thống các cơ sở lý luận khá đầy đủ và cụ thể về nguồn nhân lực trong. các lĩnh vực, quản trị nguồn nhân lực là công việc hết sức phức tạp, vì nó đụng chạm đến rất nhiều khía cạnh liên quan đến con người. Các quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực là do khác nhau về tô chức khác nhau, đặc điểm của các cá nhân trong tổ chức tạo ra những tiềm lực khác nhau. - Thứ hai, các nghiên cứu trước đây đã có phân tích và tổng hợp được một khối lượng kiến thức thực tiền trong các doanh nghiệp, tổ chức nói chung.
và cũng như các sản phẩm được tạo ra do người lao động trực tiếp làm ra, nó có những điểm giống nhau và khác nhau tùy theo mỗi doanh nghiệp. - Thứ ba, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng đào tạo nguồn nhân lực. trong quá trình hội nhập và phát triển giúp cho lực lượng lao động nâng cao được năng lực thực hiện công việc, tránh tình trạng lạc hậu hoặc không nắm. bắt kịp sự phát triển của khoa học công nghệ.
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước, đề tài “ Công tác đào tạo. nguồn nhân lực tại Công ty công trình Đô thị Đà Nẵng” sẽ góp phần hoàn thiện nguồn nhân lực tại Công ty công trình Đô thị Đà Nẵng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TO CHUC 1.1 TONG QUAN VE DAO TAO NGUON NHAN LUC 1. Một số khái niệm.
[7] Nhân lực là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công. Nhân lực là thể lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho. con người hoạt động. Thể lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham.
gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. Nhân lực cũng có thể hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Sức mạnh đó phải được kết hợp của các loại người lao động và các nhóm yếu tố: Sức khỏe, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Như vậy, nhân lực là nguôn lực của mỗi người, bao gỗm thể lực, trí lực.
và nhân cách. Thê lực của con người thê hiện sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, mức sống, mức thu nhập, chế độ sinh hoạt, y tế, tuổi tác hay giới tính. Trí lực của con người thể hiện khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết hay khả năng làm việc bằng trí óc của con người, nó phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh, quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. Nhân cách là những nét đặc trưng tiêu biểu của con người, được hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trường tự nhiên.
Nguôn nhân lực [4]. [6], [7], [10] Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực, chẳng hạn như: - Theo quan điểm của các nhà doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp. Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực chia làm 2 loại: viên chức quản lý và công nhân. Theo thời gian làm việc, nguồn nhân lực được phân thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn, xác định thời hạn và lao động vụ việc.
~ Theo quan điểm của kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc tô chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguồn nhân lực xã hội, ở tầm vi mô đó là tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tô chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Từ góc độ hạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chỉ phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, người lao động trong một tô chức được coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ trong quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là “ vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại”.
- Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì lực lượng lao. động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Đây là khái niệm về nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp, coi nguồn nhân lực là nguồn lao động hoặc toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Trong thống kê, Tổng cục thống kê Việt Nam quy định nguồn nhân lực xã hội là những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm và cả những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp.
~ Quan điểm của Cục thống kê: Nguồn nhân lực xã hội, khi tính toán còn bao gồm những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người bước vào tuôi lao động trở lên, có khả năng lao động. ~ Theo định nghĩa của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP): “Nguồn nhân lực chính là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng." Như vậy, nguồn nhân lực là tổng. thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; “tiềm năng đó bao ham tng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cầu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi.
Thực chất đó là tiềm năng của con người về số lượng, chất lượng và cơ cấu”. Quan điểm này nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhân lực không chỉ trên góc độ số lượng ( nguồn lực lao động ) mà cả về chất lượng ( tiềm năng phát triển ). Nguồn nhân lực là tắt cả các kỹ năng và năng lực của con người liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân và quốc gia. Ngày nay, trí tuệ và nền kinh tế tri thức đang là trụ cột của sự phát triển.
Các thành quả khoa học kỹ thuật trở thành yếu tố sản xuất và trở thành cấu phần sản phẩm. Tỷ trọng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thê hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề hay quốc gia đó.