CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CHUNG VE CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. Khái niệm marketing Thuật ngữ marketing xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1932) và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ II (1941-1945) nó mới có những bước nhảy vọt, phát triển mạnh mẽ về cả lượng và chất để thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học phô biến như ngày nay. Marketing được truyền bá sang Nhật và Tây Âu vào những năm 50 và 60, vào các nước Đông Âu những năm 60 và 70, vào Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ XX.
Trải qua quá trình phát triển đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về marketing. Marketing bao gồm mọi hoạt động mà doanh nghiệp sử dụng để thích nghỉ với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lợi. Hay marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra. Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng.
Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó. Bản chất của marketing không đơn thuần là làm thị trường, tiếp thị, bán hàng, quảng cáo hay nghiên cứu thị trường. đó chỉ là một phần nhỏ chứ không phải toàn bộ hoạt động marketing.
Nói như Peter Druck, một trong những nhà lý luận chủ chốt về các vấn đề quản trị thì: “Mục đích của marketing không cần thiết là đây mạnh tiêu thụ. Mục đích của nó là nhận biết và hiểu khách hàng kỹ đến mức hàng hóa hay dịch vụ sẽ đáp ứng đúng thị hiếu của khách hàng và tự nó được tiêu thụ” [6, trang 45-46]. Ngày nay marketing được hiểu rộng hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn, vì marketing không chỉ tồn tại trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, mà ngay cả trong cuộc sống con người nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người và khơi gợi những nhu cầu còn tiềm ẩn. Tuy nhiên hiện tại các nhà lý luận vẫn chưa đi đến sử dụng một định nghĩa chính thống.
Định nghĩa về marketing của Philip Kotler được xem là hoàn chỉnh và đang được các nhà lý luận thừa nhận rộng rãi. Theo Philip Kotler: *Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thẻ có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác” [15, trang 12]. Khái niệm này của marketing dựa trên những khái niệm cót lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chỉ phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái niệm này được minh hoạ trong hình sau: Nhu cầu án phải Giá tị Trao đôi Mong muốn en Chỉ phí Giao dịch Yéuciu [| [| swhailong [—*] Cac quan hệ Marketing | Người làm | Thi tudng thị trường Hình 1.
Các khái ệm cốt lõi của định nghĩa marketing Từ sau năm 1980 đến đầu năm 1990, nhà nghiên cứu tập trung mối quan tâm của mình vào việc tìm ra mối liên hệ giữa định hướng thị trường và năng lực vượt trội của tô chức. Narver và Slater đã khái quát hóa “Định hướng thị trường là một chiều hướng bao gồm ba nhân tố thuộc về hành vi và hai điều 10 kiện quyết định đó là: định hướng khách hàng, định hướng đối thủ cạnh tranh, sự phối hợp các chức năng trong tổ chức, một tầm nhìn dài hạn và một mục tiêu sinh lợi." Những tổ chức được định hướng thị trường không chỉ hướng về khách hàng mà còn hướng về thị trường. Do đó các tổ chức vừa định hướng khách hàng vừa định hướng đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, các tổ chức này nhấn mạnh không chỉ là nỗ lực tạo lập lợi thế cạnh tranh mà quan trong hơn là cung cắp giá trị vượt trội cho khách hàng.Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu marketing của LHQ, “marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào.
nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng", đây là một khái niệm hiện đại được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tư duy marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi. Tuy có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, nhưng ở đây tác giả chọn cách tiếp cận marketing định hướng giá trị cho đề tài luận văn. Khái niệm chiến lược marketing. Khai niệm chiến lược Theo Fred R.
David, tác giả cuốn “Khái luận về quản trị chiến lược” (Concepts of Strategic Management) thi “‹ iến lược là những phương tiện để đạt tới các mục tiêu dai han”. Cdn Alfred Chandler, giáo sư đại học Havard, thì định nghĩa chiến lược chỉ tiết hơn: “chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, cách lựa chọn phương hướng hành động và phân bô tài nguyên cân thiết để thực hiện các mục tiêu đó”. Đơn giản hơn theo quan điểm của phương pháp quản lý C3 “chiến lược thực chất là một hệ thống những giải pháp mang tính chất lâu dài nhằm củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường” Theo quan niệm mới, khái niệm chiến lược có thể bao gồm 5P: Chiến ll lược là kế hoạch (Plan), muu luge (Ploy), xu thé (Patten), vi thé (Position) va triển vọng (Perspective) mà doanh nghiệp muốn có trong hoạt động kinh doanh (Henry Mintzberg, 1987). Có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược, nhưng có thể nói định nghĩa chiến lược hiện đại được khá nhiều chuyên gia kinh tế chấp nhận đó là định nghĩa của M.
Porter, giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh của. Havard năm 1996 trong bai béo “What is strategy” téc gid di dua ra quan niệm chiến lược như sau: “(1) Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và tính độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc lựa chọn các hoạt động khác biệt với đối thủ cạnh tranh (cũng có thể là các hoạt động khác biệt hoặc cách thực hiện các hoạt động khác biệt). (2) Chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh.
Điểm cốt lõi là chọn những gì cần thực hiện và những gì không cần thực hiện. (3) Chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hợp nhất của chúng. Trong điều kiện hiện nay, khi môi trường có những thay đổi lớn và diễn ra hết sức nhanh chóng, chúng ta cần quan tâm tới định nghĩa của Johnson G và Scholes K (1999): “chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đôi, để đáp ứng nhu câu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [11, trang 45-46].
Khái niệm chiến lược marketing Chiến lược marketing là sự lý luận (logic) marketing nhờ đó một đơn vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu marketing của mình. Chiến lược marketing bao gồm các chiến lược chuyên biệt liên quan đến những thị trường mục tiêu, marketing-mix và ngân sách marketing [4, trang 31]. 12 Do chịu tác động của nhiều yếu tố, nên khi xây dựng chiến lược marketing phải xuất phát từ nhiều căn cứ khác nhau. Có ba căn cứ chủ yếu mà ta gọi là tam giác chiến lược là: căn cứ vào khách hàng, căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp và căn cứ vào đối thủ cạnh tranh.
Để đạt được mục tiêu đó, Philip Kotler đã đưa ra khái niệm về chiến lược marketing được thế giới công nhận và phát triển cho đến nay: “Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hóa dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng và tổ chức” [5, trang 20]. Bản chất của chiến lược marketing. Bản chất của chiến lược marketing là cách thức doanh nghiệp khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các công cụ cạnh tranh hiện có. Đó có thể là sản phẩm, dịch vụ, nhân sự hay hình ảnh.
và thông qua việc phối trí các hoạt động như: định giá, xúc tiến, quảng cáo, phân phối.doanh nghiệp làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng hay đúng hơn là tạo giá trị cho khách hàng một cách vượt trội trên cơ sở hiểu rõ nhu cầu của họ. Từ đó truyền thông các giá trị đó và cung ứng giá trị vượt trội đó đến cho khách hàng. Bằng những phối thức đó, doanh nghiệp đạt được vị thế, tạo nên sự khác biệt vượt trội đối với các đối thủ khác, hay định vị cho sản phẩm của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra. Vai trò của chiến lược marketing Chiến lược marketing là hoạt động hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược marketing giúp doanh nghiệp tìm kiếm những thông tin hữu ích về thị trường, có điều kiện mở rộng thị trường và tăng quy mô kinh doanh.
Các công cụ marketing giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, đây nhanh tốc độ tiêu thụ bằng cách nâng cao khả năng cạnh tranh và làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Nhờ có chiến lược 13 marketing các hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện một cách đồng bộ, doanh nghiệp sẽ tiếp cận với thị trường tiềm năng, chỉnh phục và lôi kéo khách hàng. Có thể nói chiến lược marketing là cầu nối giúp doanh nghiệp gần hơn với thị trường. Vai trò của chỉ lược marketing chỉ có thể đạt được nếu doanh nghiệp xây dựng một kế hoạch chiến lược marketing hợp lý, tức là có sự gắn kết chặt chẽ của chiến lược marketing, của mọi bộ phận cá nhân hướng về thị trường mục tiêu đã lựa chọn.
Xây dựng chiến lược marketing đúng hướng tạo điều kiện thuận lợi thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh Hình 1. Các nhân tố chủ yếu của chiến lược marketing. TIỀN TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING 1.
Phân tích môi trường marketing a. Phân tích môi trường vĩ mô ~ Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế chỉ bản chất và định hướng của nền kinh tế trong đó có doanh nghiệp hoạt động.