Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh. Chương 2: Thực trạng chiến lược kinh doanh cà phê xuất khẩu của Công ty TNHH MTV Xuắt nhập khâu 2-9 Đắk Lắk. Chương 3: Xây dựng chiến lược kinh doanh cà phê xuất khẩu của Công ty TNHH MTV Xuắt nhập khâu 2-9 Đắk Lắk. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHIEN LUQC KINH DOANH 1.TONG QUAN VE CHIEN LUQC 1.
Khái niệm chiến lược Theo Chandler (1962): “ Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục.10] Nam 1980, Quin da đưa ra định nghĩa khái quát hơn về chiến lược. Cụ thể “ Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”.10] Sau đó, Johnson va Scholes dinh nghia lai chién luge trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đôi nhanh chóng: “ Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” Trong định nghĩa chiến lược 5P, Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau: [3,tr.10] Kế hoạch (Plan): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. Mô thức (Partern): Sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. Vị thế (Position): Phù hợp giữa các tô chức và môi trường của nó.
Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. Thủ thuật (Ploy): Cách thức cụ thể đề đánh lừa đối thủ. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động có liên quan chặt chẽ với nhau để sử dụng hiệu quả các năng lực và nguồn lực phù hợp với môi trường hoạt động của tổ chức nhằm hướng tới các mục tiêu dài hạn mong muốn. Các cấp độ chiến lược Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau tùy theo cấp độ.
Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điềm. Chiến lược cấp công ty' Chiến lược cấp công ty trả lời hai câu hỏi then chót, đó là công ty gồm các hoạt động kinh doanh nào và công ty sẽ quản lý các hoạt động kinh doanh đó ra sao. Như vậy: Chiến lược cấp công ty xác định các hành động, mà công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm. Chiến lược cấp công ty có thể giúp công ty đạt được thu nhập trên trung bình bằng việc sáng tạo giá trị.
Như vậy, chiến lược công ty hữu hiệu. làm cho tổng thê các đơn vị kinh doanh có được thu nhập tông hợp vượt quá những gì mà nó có thể làm nếu không có chiến lược, góp phần vào khả năng chiến lược của công ty, và đem lại cho công ty khả năng thu được thu nhập trên trung bình. Chiến lược cấp kinh doanh Chiến lược cấp kinh doanh là tổng thê các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực hiện có vào những thị trường sản phẩm cụ thể. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, các nhà quản trị cấp cao nên xem công ty của họ như một tổ hợp các năng lực cốt lõi, khi họ lựa chọn các đơn vị kinh doanh mới và lựa chọn cách thức quản trị chúng.
Chiến lược chức năng Các chiến lược cấp chức năng là chiến lược hướng đến cải thiện hiệu lực của các hoạt động cơ bản trong phạm vi công ty, như sản xuất, marketing, tài chính „ nghiên cứu và phát triển (R&D), và nguồn nhân lực d. Chiến lược toàn cầu Chiến lược toàn cầu là chiến lược kinh doanh trong đó doanh nghiệp có sự trao đổi sản phẩm hay dịch vụ của mình ra thị trường quốc Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiện nay thì chiến lược này rất quan trọng. KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI HÌNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái niệm Như đã trình bày ở phần trên, chiến lược kinh doanh là tông thê các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp dành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực hiện có vào những thị trường sản phẩm cụ thể.
Thực chất: Chiến lược cấp kinh doanh phản ánh niềm tin của doanh nghiệp về địa điểm và cách thức mà nó có thể giành được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Abell, để xây dựng chiến lược cấp kinh doanh phải giải quyết ba vấn đề chính, đó là: (1) nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thỏa mãn (WhaU), (2) các nhóm khách hàng hay ai được thỏa mãn (Who), và (3) các khả năng khác biệt hóa hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thỏa mãn (How). Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngành. * Nhu cầu khách hàng 10 Nhu cầu khách hàng là những mong muốn, đòi hỏi hay khao khát của khách hàng mà có thể sẽ được thỏa mãn bằng các đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ.
Sự khác biệt hóa sản phẩm là quá trình tạo ra một lợi thế bằng việc. thiết kế sản phẩm - hàng hóa hay dịch vụ - để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Tất cả các công ty phải tạo sự khác biệt cho các sản phẩm của họ sao cho có thê hấp dẫn được khách hàng và ít nhất là thỏa mãn nhu cầu của họ. Nhiều công ty đã làm cho sản phẩm của họ có sự khác biệt đáng kể so với các công ty khác và sự khác biệt này giúp họ có được một ưu thế cạnh tranh sắc nét.
Tuy nhiên trên thực tế cũng có nhiều công ty cung cấp cho khách hàng, sản phẩm giá thấp mà không gắn một sự khác biệt về sản phẩm. Các công ty khác lại cố tìm ra sự độc đáo nào đó cho sản phẩm của mình, họ có gắng thỏa mãn nhu cầu khách hàng theo cách thức mà các sản phẩm khác không, có được. * Các nhóm khách hàng và phân đoạn thị trường. Quyết định cơ bản ở mọi công ty liên quan đến chiến lược cấp kinh doanh, đó là quyết định về ¡ trường mục tiêu để hướng sự phục vụ của mình vào đó.
Để có được quyết định như vậy các công ty phải chia khách hang thành từng nhóm dựa trên các khác biệt về nhu cầu của họ để tìm ra lợi thế cạnh tranh. Quá trình đó được gọi là quá trình phân đoạn thị trường tương ứng với kết quả phân đoạn thị trường và khả năng về nguồn lực của tô chức mà một công ty có thể quyết định phục vụ toàn bộ thị trường, khi đó không nhất thiết phải nhận biết sự khác biệt nhu cầu giữa các nhóm; phục vụ đa dạng, nghĩa là phân đoạn thị trường của nó thành các phân đoạn khác nhau và phát triển các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của mỗi phân đoạn; và phục vụ tập trung, nghĩa là công ty chỉ tập trung vào phục vụ một phân đoạn hay một khe hở. " Khi xây dựng chiến lược kinh doanh các công ty nên xác định các thị trường mục tiêu và dựa trên các năng lực cốt lõi, cũng như cơ hội từ môi trường, xây dựng chiến lược để cung cấp giá trị n khách hàng mục tiêu, thảo mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. * Khả năng khác biệt hóa Vấn đề thứ ba trong chiến lược cấp kinh doanh là quyết định theo đuổi các khả năng tạo sự khác biệt để thảo mãn nhu cầu của khách hàng và các nhóm khách hàng.
Thường thì có bồn cách đề giành lợi thế cạnh tranh, đó là: vượt trội về hiệu quả, chất lượng, cải tiền và đáp ứng khách hàng. Trong việc hình thành các phương án chiến lược kinh doanh, các công ty phải quyết định cách thức tổ chức và kết hợp các khả năng tạo sự khác biệt của nó để giành được lợi thế cạnh tranh. Các loại hình chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh thực chất là dựa trên các nguồn lợi thế cạnh tranh để thành công. Các doanh nghiệp sẽ có gắng một cách kiên định để tạo dựng lợi thế cạnh tranh thông qua một chuỗi vô hạn các chiến lược.
Porter (1980), có ba cách tiếp cận cơ bản để tạo dựng lợi thế cạnh tranh a. Chiến lược dẫn đạo chỉ phí Là tổng thê các hành động nhằm cung cắp các sản phẩm hay dịch vụ có. các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chỉ phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh Nói cách khác, chiến lược dẫn đạo chỉ phí dựa trên khả năng của doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hay dịch vụ với mức chỉ phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Các giải pháp chủ yếu của chiến lược dẫn đạo chỉ phí là: 12 Doanh nghiệp dẫn đạo chỉ phí có thể lựa chọn mức khác biệt hóa sản phẩm thấp nhưng không quá thấp hơn so với mức của doanh nghiệp theo đuôi chiến lược khác biệt hóa (tức là doanh nghiệp cạnh tranh bằng cách đầu tư các nguồn lực vào việc phát triển sản phẩm).
Doanh nghiệp dẫn đạo chỉ phí không cố gắng trở thành người dẫn đạo. ngành bằng cách tạo sự khác biệt; họ chờ cho đến khi các khách hàng có mong muốn một đặc tính hay dịch vụ. Doanh nghiệp dẫn đạo chỉ phí cũng thường ít để ý đến các phân đoạn thị trường khác nhau và định vị sản phẩm của mình để lôi cuốn khách hàng bình thường. Dé đạt được lợi ích về chí phí thấp, doanh nghiệp có thể phát triển các kỹ năng chế tạo linh hoạt và áp dụng kỹ thuật quản trị vật liệu hiệu quả.
Do đó, các chức năng quản trị vật liệu và chế tạo là trung tâm chú ý của một công. ty đang theo đi chiến lược dẫn đạo chỉ phí, các chức năng khác cần định hướng khả năng sáng tạo khác biệt của nó đẻ đáp ứng yêu cầu của quản trị vat liệu và chế tạo. Chức năng quản trị nguồn nhân lực có thể tập trung vào việc tạo lập các chương trình huấn luyện và hệ thống thù lao sao cho có thẻ hạ thấp chỉ phí bằng việc nâng cao năng suất lao động.