CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔ HÌNH CÓ BAN KIỂM SOÁT 1. Tổng quan về quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm quản trị công ty Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, khái niệm về QTCT đã trở thành một khái niệm quen thuộc, được sử dụng khá phổ biến và thông dụng trong các báo cáo, nghiên cứu, đánh giá về chính sách, thể chế, pháp luật… liên quan tới các loại hình công ty, đặc biệt là CTCP. Tuy nhiên, cũng có thể nói rằng cho đến thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về QTCT (Corporate governance).
Dựa trên những góc nhìn khác nhau, lý thuyết khác nhau, người ta có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau về QTCT. Theo lý thuyết đại diện (Agency Theory) (được phát triển bởi Alchian, Demsetz, Jensen và Meckling), QTCT được định nghĩa là mối quan hệ giữa chủ sở hữu (các cổ đông) và các đại diện như giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty. Chủ sở hữu công ty - các cổ đông luôn kỳ vọng các đại diện sẽ luôn hành động và ra các quyết định vì lợi ích của họ. Khác với lý thuyết đại diện, lý thuyết người quản lý (Stewardship Theory) lại đặt trọng tâm của hoạt động quản trị vào người quản lý, trong đó nhà quản lý được xem là những người chuyên nghiệp, giỏi quản lý sẽ hoạt động vì lợi ích của các cổ đông (Donaldson và David, 1991).
Lý thuyết về sự phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency Theory) lại tập trung vào vai trò của người quản trị trong việc tiếp cận, cung cấp và đảm bảo nguồn lực cần thiết cho công ty thông qua mối liên kết của họ với môi trường bên ngoài. Một số cơ quan, tổ chức uy tín trên thế giới cũng đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về QTCT. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OECD) thì: “QTCT là hệ thống mà thông qua đó công ty được chỉ đạo và kiểm soát. Cơ cấu QTCT quy định việc phân bổ quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên tham gia khác nhau trong công ty như HĐQT, các chức danh điều hành, cổ đông và các bên có quyền lợi liên 9 quan khác; đồng thời đề ra các quy tắc và thủ tục ra quyết định đối với các công việc của công ty.
Bằng cách này, nó tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, các phương tiện thực thi và giám sát thực thi các mục tiêu đó” [24, tr. Cụ thể hóa định nghĩa này, OECD đưa ra một bộ các nguyên tắc mang tính khuyến nghị về QTCT nhằm hướng đến đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, của người có quyền lợi liên quan khác, tăng tính minh bạch và trách nhiệm của HĐQT để thu hút các nguồn lực vào quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể pháp lý. Ngân hàng Thế giới (WB) với cách tiếp cận mang tính pháp lý lại đưa ra định nghĩa: “QTCT là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tồn tại quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội.
Đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống QTCT là: (i) tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; (ii) đảm bảo thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; (iii) các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết” [21, tr. Vẫn theo hướng tiếp cận đó của WB, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng: “QTCT bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy định trên [21, tr.363] Phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, thuật ngữ “QTCT” đã được du nhập vào Việt Nam cùng với các hệ thống tiêu chuẩn QTCT hiện đại. Theo luật gia Nguyễn Ngọc Bích thì QTCT (lèo lái công ty-corporate governance): “là một tập hợp các cơ chế liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia 10 quyền hạn và nghĩa vụ giữa cổ đông, HĐQT, Ban GĐ và những người có lợi ích liên quan khác như người lao động, nhà cung cấp” [5, tr.
Trong khi đó, TS Ngô Viễn Phú lại cho rằng, ở giác độ pháp lý, QTCT chỉ đơn giản là: “phương cách tổ chức các cơ quan quyền lực của công ty và mối quan hệ chế ước quyền lực giữa các cơ quan đó” [26, tr. Quan điểm này thể hiện sự phân chia quyền lực trong công ty giống như quyền lực nhà nước. Đinh Văn Ân - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thì QTCT theo nghĩa hẹp là: “cơ chế quản lý - giám sát của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu” còn theo nghĩa rộng thì QTCT gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí khách hàng của công ty, được xem là “tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, HĐQT và các bên có liên quan nhằm xác định mục tiêu, hình thành các công cụ để đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty [41]. Từ tất cả những định nghĩa và phân tích trên có thể cho phép khái quát rằng, dưới góc độ pháp lý, theo nghĩa rộng, QTCT là tất cả các quy định, cơ chế nhằm tổ chức công ty vận hành, hoạt động một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu công ty và xã hội.
Quy chế QTCT xác định rõ nội dung phân chia các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa chủ sở hữu công ty (ĐHĐCĐ), HĐQT, Ban GĐ điều hành, BKS và những chủ thể có liên quan khác của công ty (người lao động, chủ nợ,…); đồng thời lập ra các nguyên tắc và thủ tục để ra quyết định về những vấn đề của công ty. Ở phạm vi hẹp hơn, QTCT được hiểu như là chế định về quản lý nội bộ công ty. Chúng điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể quản lý, giám sát trong công ty với nhau và với chủ sở hữu công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm quyền, giảm thiểu những rủi ro cho công ty và cổ đông công ty. Các nguyên tắc của quản trị công ty Từ bản chất và nội dung phức tạp của QTCT, qua đúc kết kinh nghiệm QTCT từ các nước tiên tiến trên thế giới, tổ chức OECD đã đưa ra sáu nguyên tắc cơ bản của 11 QTCT như sau: - Thứ nhất: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả.
Theo OECD thì: “Khuôn khổ QTCT cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi” [24, tr16]. Nguyên tắc này của OECD đặt ra yêu cầu khung pháp luật về QTCT (bao gồm tổng thể các quy định do pháp luật đặt ra liên quan đến QTCT và các quy định nội bộ của chính công ty bao gồm điều lệ và các bản quy chế nội bộ trong các lĩnh vực như tài chính, kỷ luật lao động, giám sát nội bộ, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử…) phải thống nhất, minh bạch và có khả năng cưỡng chế thực thi. Ngoài ra, cũng cần có sự phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý khác nhau trong QTCT. Các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi phải độc lập, có đủ thẩm quyền và nguồn lực để hoàn thành tốt chức năng của mình.
- Thứ hai: Khung pháp lý về QTCT phải đảm bảo quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản. Theo OECD thì: “Khuôn khổ QTCT phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông” [24, tr18]. Trong đó, các quyền cổ đông quan trọng nhất cần được bảo vệ gồm có: 1) Đảm bảo quyền sở hữu; 2) Chuyển nhượng cổ phần; 3) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường xuyên; 4) Tham gia và biểu quyết tại ĐHĐCĐ; 5) Bầu và bãi miễn các thành viên HĐQT; 6) Hưởng lợi nhuận của công ty. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu khung pháp lý về QTCT phải có các quy định cụ thể về các nhóm quyền cổ đông kể trên và đặc biệt là phải có cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cổ đông đó.
Để thực hiện các quyền này, khung khổ hoạt động của công ty phải tạo ra cơ chế cho cổ đông tham gia hiệu quả hoạt động QTCT như biểu quyết tại đại hội, được thông tin đủ về tình hình công ty. - Thứ ba: Đối xử bình đẳng với cổ đông. Về nguyên tắc này, OECD cho rằng: “Khuôn khổ QTCT cần đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài. 12 Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm” [24, tr20].
CTCP giống như một xã hội thu nhỏ, trong số các cổ đông của công ty có những cổ đông nắm phần vốn lớn (có nhiều cổ phần) và các cổ đông nắm phần vốn nhỏ (có ít cổ phần). Với nguyên tắc đối vốn của CTCP, các cổ đông nắm phần vốn lớn sẽ có quyền tham gia nhiều hơn vào quá trình ra quyết định của công ty hay quá trình QTCT thông qua việc bỏ phiếu tại ĐHĐCĐ và ngược lại các cổ đông có ít vốn sẽ ít có khả năng tham gia vào quá trình đó. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm cho rằng mọi cổ đông đều phải được đối xử một cách bình đẳng, OECD cho rằng mọi cổ phiếu cùng loại và cùng một đợt phát hành đều có quyền như nhau.