Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, dân tộc Ngái tại Việt Nam có 1.649 người, xếp thứ 49 trong cộng đồng 54 dân tộc anh em và thuộc nhóm 16 dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10.000 người). Trước đó, số liệu thống kê năm 1999 ghi nhận 4.841 người, nhưng đến năm 2009 sụt giảm mạnh xuống còn 1.035 người (giảm khoảng 78,6%) và năm 2015 chỉ còn 999 người do nhiều biến động lịch sử và việc thay đổi kê khai tộc danh. Sự suy giảm về quy mô dân số cùng quá trình giao lưu văn hóa đã đặt kho tàng văn hóa phi vật thể của người Ngái trước nguy cơ mai một nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về vũ trụ quan và nhân sinh quan ẩn chứa trong các sáng tác dân gian của người Ngái. Đề tài hướng đến mục tiêu sưu tầm, hệ thống hóa và phân tích các thể loại truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, thành ngữ, tục ngữ và đặc biệt là dân ca Sường cô. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các địa bàn cư trú lâu đời của người Ngái tại các tỉnh Thái Nguyên (huyện Đồng Hỷ), Bắc Giang (huyện Lục Nam, Lục Ngạn), Bắc Kạn (huyện Bạch Thông, Ngân Sơn) và Quảng Ninh trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XX đến năm 2021.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp nguồn tư liệu thực địa quý giá, bổ sung khoảng 15-20 dị bản tác phẩm văn học dân gian chưa từng được công bố trong các công trình chuyên khảo trước đây. Nghiên cứu khẳng định tư cách tộc người độc lập của người Ngái, bồi đắp vào kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam và tạo cơ sở khoa học để phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa thiểu số trong thời kỳ hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết folklore học hiện đại, coi văn học dân gian là hình thái ý thức xã hội nguyên hợp gắn liền với sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất. Bên cạnh đó, lý thuyết nhân học văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) được kết hợp để giải thích sự biến đổi tâm thức tộc người trong quá trình cộng cư với người Kinh, Tày, Nùng và Sán Dìu.

Mô hình nghiên cứu triển khai qua các khái niệm cốt lõi:

  • Vũ trụ quan dân gian: Nhận thức nguyên sơ, chất phác của cộng đồng về nguồn gốc trời đất, vũ trụ, muôn loài và các quy luật tự nhiên.
  • Nhân sinh quan dân gian: Hệ thống quan niệm về nguồn gốc con người, quan hệ đạo đức xã hội, ứng xử giữa người với người và ứng xử với tự nhiên.
  • Không gian sinh tồn: Môi trường địa lý, kinh tế - xã hội định hình tâm thức sáng tạo nghệ thuật.
  • Dân ca Sường cô: Thể loại hát đối đáp giao duyên đặc trưng, mang chức năng trữ tình và phản ánh nhân sinh sâu sắc của người Ngái.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp (các công trình nghiên cứu dân tộc học, địa chí Thái Nguyên, địa chí Bắc Giang từ năm 1954 đến 2019) và dữ liệu sơ cấp thu thập qua điền dã thực địa tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm hơn 20 nghệ nhân và nhân chứng cao tuổi người Ngái (độ tuổi từ 62 đến 91 tuổi), tiêu biểu như cụ Thẩm Hoa Huân (91 tuổi, Thái Nguyên), bà Dương Thị Lỷ (80 tuổi, Bắc Giang), ông Trần Sửu Gioóng (77 tuổi, Bắc Kạn). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling) được áp dụng nhằm tiếp cận những cá nhân nắm giữ vốn tri thức dân gian truyền thống phong phú nhất tại các xóm làng bản địa.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp liên ngành bao gồm:

  • Điền dã dân tộc học: Phỏng vấn sâu, ghi âm, ghi chép lời kể và quan sát tham dự tại các lễ hội truyền thống như lễ Tả Tài Phán, lễ Kỳ Yên.
  • Phương pháp so sánh văn học: Đối chiếu môtip truyện dân gian Ngái với các dân tộc lân cận để tìm ra nét tương đồng và dị biệt.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Hệ thống hóa các thể loại tác phẩm thu thập được theo chủ đề nhận thức vũ trụ và nhân sinh.

Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ đặc tính truyền miệng và tình trạng phân tán của cộng đồng người Ngái, đòi hỏi phải trực tiếp khai thác tư liệu sống từ thực địa để đảm bảo tính khách quan và chân thực tuyệt đối cho luận văn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quan niệm về vũ trụ của người Ngái mang tính duy vật chất phác hòa quyện với tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Qua truyện thần thoại "Truyện quả bầu khô", người Ngái lý giải sự hình thành muôn loài và các tộc người sau thảm họa đại hồng thủy. Cốt truyện có độ tương đồng khoảng 80% với môtip quả bầu mẹ của người Sán Dìu, Dao, Khơ Mú, phản ánh khát vọng tái thiết cộng đồng và khẳng định mối quan hệ ruột thịt giữa các dòng họ người Ngái.

Thứ hai, nhận thức về các hiện tượng tự nhiên được đúc kết thành kho tàng tri thức canh tác phong phú. Khảo sát 100% truyện cổ tích loài vật như "Sự tích con đỉa", "Chó và mèo" cùng truyện "Sự tích ngày mang chủng" cho thấy tư duy quan sát thời tiết tinh tế của cư dân nông nghiệp lúa nước. Các câu tục ngữ thời tiết như quan sát chuồn chuồn bay hay hiện tượng sao đêm phản ánh năng lực thích ứng với quy luật tự nhiên mà không hoàn toàn phó mặc cho số phận.

Thứ ba, nhân sinh quan của người Ngái đề cao đạo lý làm người, lòng nhân ái và tinh thần cộng cảm bền chặt. Trong các truyện cổ tích, 100% kết cấu kết thúc có hậu theo nguyên lý "ở hiền gặp lành", người lương thiện được đền đáp xứng đáng. Thể chế gia đình phụ hệ nhưng phụ nữ luôn được tôn trọng và chăm sóc chu đáo trong chu kỳ sinh nở.

Thứ tư, nghệ thuật dân ca Sường cô là đỉnh cao biểu đạt tâm hồn người Ngái nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng văn hóa. Hiện nay chỉ còn khoảng 5% đến 10% người già trên 70 tuổi còn khả năng hát và ghi nhớ lời đối đáp Sường cô cổ truyền bằng tiếng Ngái bản địa, trong khi thế hệ trẻ gần như 100% không còn sử dụng loại hình diễn xướng này trong sinh hoạt đời thường.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy sự hình thành quan niệm vũ trụ và nhân sinh của người Ngái bắt nguồn sâu xa từ sinh thái canh tác lúa nước kết hợp kinh tế rừng đồi. Dữ liệu thực địa phản ánh rõ nét sự biến đổi văn hóa: người Ngái sống xen cư với người Kinh, Tày, Nùng nên đã tiếp biến nhiều yếu tố văn hóa xung quanh, dẫn đến sự suy giảm ngôn ngữ mẹ đẻ.

Dữ liệu nghiên cứu về sự suy giảm vốn văn nghệ dân gian có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ nhận diện các làn điệu Sường cô giữa các nhóm tuổi: nhóm trên 70 tuổi đạt mức hiểu biết khoảng 85%, nhóm từ 40 đến 69 tuổi đạt khoảng 25%, và nhóm dưới 40 tuổi chỉ đạt dưới 5%. Bảng so sánh liên tộc người giữa người Ngái và các dân tộc cận cư (Hoa, Sán Dìu, Tày) làm nổi bật tính chất độc lập trong tập quán cư trú, ẩm thực (như món cháo củ cải muối, món khau nhục) và lối ứng xử gia đình không có sự phân biệt hà khắc giữa nàng dâu với nhà chồng.

Ý nghĩa của các phát hiện này chỉ ra rằng, dù tư duy cổ xưa có yếu tố hoang đường thần bí, tinh thần chủ đạo trong sáng tác dân gian của người Ngái vẫn là tinh thần nhân đạo, lòng yêu đời và ý chí làm chủ hoàn cảnh sống.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị sáng tác dân gian của dân tộc Ngái trong bối cảnh hiện đại, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Khẩn trương số hóa và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể: Tiến hành ghi âm, ghi hình, dịch thuật và xuất bản tuyển tập văn học dân gian dân tộc Ngái với mục tiêu hoàn thành 100% tư liệu điền dã từ các nghệ nhân cao tuổi trong giai đoạn 2022 - 2024. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành.
  • Phục dựng không gian văn hóa diễn xướng truyền thống: Tổ chức định kỳ các câu lạc bộ hát Sường cô và duy trì quy mô lễ Kỳ Yên, lễ Tả Tài Phán tại các thôn bản tập trung đông người Ngái. Đặt chỉ tiêu thu hút ít nhất 40% thanh thiếu niên người Ngái tham gia học hát giao duyên trong lộ trình 2023 - 2025 dưới sự điều hành của UBND cấp xã và Hội Văn nghệ dân gian địa phương.
  • Lồng ghép giáo dục di sản vào chương trình học đường: Biên soạn tài liệu giáo dục địa phương giới thiệu về truyện cổ tích, thần thoại của người Ngái đưa vào giảng dạy ngoại khóa tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) và Lục Ngạn (Bắc Giang) trong 3 năm học tiếp theo. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên chịu trách nhiệm triển khai.
  • Xây dựng chính sách vinh danh và đãi ngộ nghệ nhân: Thiết lập chế độ trợ cấp sinh hoạt hằng tháng và kinh phí truyền dạy cho 100% nghệ nhân người Ngái trên 70 tuổi còn nắm giữ vốn ca dao, dân ca từ năm 2023. Chủ thể thực hiện là Ủy ban Dân tộc và Ban Dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Văn học, Văn hóa học, Dân tộc học: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và hệ thống tư liệu gốc về 1 trong 16 dân tộc thiểu số rất ít người tại Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và viết chuyên đề học thuật.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc: Nguồn số liệu thực địa và các kiến nghị giải pháp là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng các đề án bảo tồn khẩn cấp văn hóa các dân tộc có nguy cơ mai một cao.
  • Giáo viên bộ môn Ngữ văn và Lịch sử địa phương: Cung cấp tư liệu giảng dạy thực tế về kho tàng truyện cổ, ca dao dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn.
  • Cộng đồng người Ngái và các nhà nghiên cứu folklore: Giúp đồng bào hiểu rõ hơn cội nguồn, bồi đắp niềm tự hào dân tộc và khơi dậy ý thức tự giác trao truyền di sản của cha ông cho các thế hệ con cháu.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Ngái có nguồn gốc lịch sử như thế nào và phân bố ở đâu? Tổ tiên người Ngái di cư từ vùng Đông Nam Trung Quốc sang Việt Nam qua đường Quảng Ninh khoảng 7-8 đời trước (khoảng những năm 1940 lên Thái Nguyên). Hiện nay, cộng đồng có 1.649 người (theo điều tra năm 2019), cư trú phân tán tại 27 tỉnh, thành phố, tập trung nhiều nhất ở Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn, Quảng Ninh.

Vũ trụ quan của người Ngái được thể hiện nổi bật qua tác phẩm nào? Vũ trụ quan thể hiện rõ nhất qua "Truyện quả bầu khô" giải thích nguồn gốc muôn loài sau nạn hồng thủy, và "Sự tích ngày mang chủng" phản ánh quy luật mưa nắng trong sản xuất. Những tác phẩm này khẳng định vai trò trung tâm của con người trong việc nhận thức và cải tạo giới tự nhiên.

Dân ca Sường cô có vai trò gì trong đời sống văn hóa của người Ngái? Sường cô là hình thức hát đối đáp trữ tình bằng tiếng Ngái, phản ánh tâm tư, tình yêu lứa đôi và lao động sản xuất. Điệu hát không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, đóng vai trò sợi dây gắn kết cộng đồng và là phương tiện giáo dục đạo đức truyền thống.

Nguyên nhân chính khiến văn hóa dân gian của người Ngái bị mai một là gì? Nguyên nhân chủ yếu do số lượng dân số ít ỏi, tập quán sống xen cư với các dân tộc đa số, tác động của kinh tế thị trường và sự đứt gãy trong truyền dạy ngôn ngữ mẹ đẻ cho thế hệ trẻ khi các nghệ nhân trên 70 tuổi ngày càng vắng bóng.

Luận văn đóng góp điểm mới gì cho ngành Văn học Việt Nam? Luận văn là công trình chuyên khảo tiên phong hệ thống hóa toàn diện quan niệm vũ trụ và nhân sinh của người Ngái qua lăng kính văn học dân gian, bổ sung nhiều tư liệu điền dã quý giá chưa từng công bố từ các nghệ nhân cao tuổi tại 5 tỉnh miền Bắc.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc quan niệm vũ trụ và nhân sinh của dân tộc Ngái – cộng đồng 1.649 người thuộc nhóm dân tộc thiểu số rất ít người tại Việt Nam.
  • Khẳng định giá trị nhân văn, triết lý sống hòa hợp với tự nhiên và tinh thần tương thân tương ái thể hiện qua các truyện cổ tích loài vật, môtip quả bầu hồng thủy và nghệ thuật dân ca Sường cô.
  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã xác thực từ hơn 20 nghệ nhân cao tuổi tại 5 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Cao Bằng.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi với lộ trình hành động cụ thể giai đoạn 2022 - 2025 nhằm số hóa di sản, phục dựng lễ hội và hỗ trợ nghệ nhân dân gian.
  • Kêu gọi các cấp quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng chung tay hành động khẩn cấp để gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của người Ngái, làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.