Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI 1. Tổng quan về lịch sử dân tộc Ngái ở Việt Nam 1. Nguồn gốc tộc người Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, bức tranh văn hóa Việt Nam được tạo nên bởi 54 tộc người với sự phong phú, đa dạng về văn hóa.
Các tộc người ở Việt Nam được hình thành bởi hai nguồn gốc là cư dân bản địa và cư dân di cư. Tuy nhiên, các cộng đồng dân tộc dù có nguồn gốc như thế nào thì khi đã chọn Việt Nam là quê hương để sinh sống thì họ luôn có tư tưởng gắn bó với lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng chung sống và tuân thủ mọi luật pháp của Nhà nước Việt Nam. Tạo nên một mái nhà chung vừa đa dạng, vừa thống nhất. Theo các tài liệu nghiên cứu về lịch sử của các dòng họ, tộc người, quá trình di cư của người Ngái vào Việt Nam diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ.
Tổ tiên của dân tộc Ngái đều có nguồn gốc từ khu vực Đông Nam Trung Quốc, các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây. Do những biến động lịch sử và sức ép kinh tế - xã hội nơi quê nhà, họ đã di cư đến khu vực Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi từ đây di cư vào khu vực Móng Cái, Hà Cối (Đầm Hà và Hải Hà ngày nay) thuộc tỉnh Hải Ninh (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Thời điểm các dòng họ di cư đến khu vực này tính đến nay đã 7-8 đời. Từ đây, các gia đình dần dần di cư sâu hơn vào trong đất liền, di tán khắp mọi nơi lên các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, … một bộ phận lớn người Ngái đã di cư vào Nam sau năm 1954.
Theo lời kể của bác Thẩm Dịch Thọ người được cho là thông thạo hiểu biết rõ về dân tộc của mình: “Người Ngái chúng tôi di cư từ vùng Hà Cối, tỉnh Hải Ninh (cũ) lên Thái Nguyên và định cư ở đây nhiều đời, cuộc sống ban đầu vô cùng khó khăn, đói kém. Nhất là những biến cố lịch sử, chiến tranh biên giới phía Bắc vào năm 1979, một số người về Trung Quốc, một số di cư vào Nam. Tuy nhiên, nhiều người vẫn quyết tâm ở lại mưu sinh trên mảnh đất Thái Nguyên cho đến nay. Cộng đồng Ngái chúng tôi có nguồn gốc ở vùng Quảng Đông của Trung Quốc”.
Bác Thẩm Dịch Đức kể lại: “Cuộc sống mưu 11 sinh ở đất Quảng Ninh khá chật vật, lại nghe nói vùng đất Thái Nguyên làm ăn dễ dàng, nên vào những năm 1940, khi tôi còn ẵm ngửa thì gia đình chúng tôi đã di cư từ Quảng Ninh lên mảnh đất Thái Nguyên và khai phá mảnh đất này từ thời đó”. “Ở thôn Tam Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên chúng tôi ngày nay có bốn dòng họ lớn như họ Thẩm, họ Trần, họ Lâm và họ Hoàng. Họ vẫn giữ được những nét văn hóa của người Ngái”. Trong đó họ Thẩm là dòng họ lớn nhất của người Ngái ở Thái Nguyên, là người gốc Hán nói tiếng Ngái và tiếng Khách, quê cha đất tổ ở vùng La Lương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Họ Thẩm đến Việt Nam định cư được khoảng 8 đời. Bốn đời trước định cư ở vùng Hà Cối, tỉnh Hải Ninh (cũ). Khi định cư ở vùng Hải Ninh (cũ), các gia đình họ Thẩm làm ruộng trồng lúa, ngô, khoai, sắn. Tuy nhiên không định cư lâu dài bởi đất trồng trọt xấu, chăn nuôi không hiệu quả.
Cụ Thẩm Hoa Huân năm nay đã 91 tuổi, nhưng cụ vẫn còn nhớ rất rõ cuộc di cư cùng gia đình từ Hà Cối, Quảng Ninh lên Thái Nguyên khi đó cụ mới 11 tuổi. Cụ kể lại: "Bố tôi sinh ra ở Trung Quốc, di cư sang Việt Nam. Tôi sinh ra ở Hà Cối. Năm tôi 11 tuổi thì bắt đầu đến Thái Nguyên.
Không nhớ là đã đi bao nhiêu ngày, nhưng khi đến vùng đất này thì dừng lại, vì ở đây đất đai tươi tốt, lại có nhiều mỏ thép, dễ làm ăn"[02]. Trong quá trình thực địa tại thôn Tam Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên khi được hỏi bác Thẩm Dịch Đức cũng chia sẻ “Tôi nghe các cụ kể lại, trước kia chúng tôi sống ở vùng Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh (ngày nay) vô cùng khó khăn, đất đai bạc màu, do gần biển nên chủ yếu là đất pha cát, làm ăn thất bát liên tục. Nghe người ta nói vùng đất Thái Nguyên đất đai mầu mỡ, có nhiều ruộng, núi rừng hiểm trở có thể sinh sống mà không lo chiến tranh đe dọa, chúng tôi sinh sống từ đó đến nay. Một số gia đình họ Thẩm di cư tiếp sang vùng đất Bắc Giang, chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau”.
Khi viết về các dạng di trú của những tộc người ở Trung Quốc, tác giả Trần Khánh có bàn về dạng di trú sinh thái, khi phân tích nguyên nhân di cư và các dạng di trú của người Trung Hoa trong lịch sử có viết: “Sự mất mùa đói kém, bệnh tật, dân cư thừa thải, sinh đẻ quá mức, đất chật người đông, buộc con người ta phải từ bỏ quê hương, đi tìm nơi sinh sống mới tốt hơn. Việt Nam nói riêng, các nước Đông Nam Á nói chung có điều kiện tự nhiên thuật lợi, nằm sát ngay với Trung Quốc, có thể dễ dàng di cư sang đó bằng đường bộ hoặc đường thủy. Mặt khác, phong tục tập quán, lối sống, tôn giáo và chủng tộc của người Việt Nam cũng như các cư dân khác trong 12 khu vực tương đối gần gũi với người Trung Hoa, nên việc lập quê hương mới của họ trên đất khách quê người ít gặp trắc trở” [13, tr37]. Khi vào Việt Nam mỗi dòng họ người Ngái đều mang theo mình những câu chuyện về hành trình di cư.
Mỗi vùng đất họ đi qua đều để lại dấu ấn văn hóa của chính mình và của những người dân sở tại. Chúng hòa quyện với nhau, giao thoa và tiếp biến. Có thể nói, con đường di cư đó đã một phần tác động, tạo nên một thứ văn hóa tộc người đa dạng, tổng hòa từ nhiều yếu tố và được hun đúc, giữ gìn theo thời gian. Năm 1978 quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng do mâu thuẫn trong chiến tranh biên giới Tây Nam.
Người Hoa ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng, bị cuốn theo dòng chảy lịch sử. Giữa người Việt và người Hoa đã xảy ra những mâu thuẫn, những cuộc tranh chấp đáng tiếc, phần lớn người Hoa trở về Trung Quốc. Trong thời gian này, cuộc sống của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam đã phải trải qua cơn biến động không nhỏ. Theo đó, người Ngái ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, được xem là một bộ phận của dân tộc Hoa, cũng không tránh khỏi vòng xoáy biến động đó.
Khi nói về sự kiện này ông Sằn Tắc Sình- người Ngái tại thành phố Thái Nguyên chia sẻ: “Những biến cố lịch sử năm 1979, để lại trong chúng tôi những vui buồn của một thời chưa xa, về những năm tháng lịch sử đầy biến động. Cuộc sống của chúng tôi gặp không ít khó khăn do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ”. Khi chúng tôi muốn hỏi kỹ hơn thì ông bà không chia sẻ nữa. Ông nói: “Đã là quá khứ không vui thì không nên nhắc lại”.
Bà Trương Thị Phụng nói: “Chúng tôi đến với Việt Nam từ thời các các cụ và xem Việt Nam là quê hương của mình, chúng tôi yêu Việt Nam và gắn bó với Việt Nam”. Ông bà vẫn còn cất giữ được những trang phục của người Ngái, bà chia sẻ: “Trước kia thì hay mặc, cả đàn ông, đàn bà thường mặc trong sinh hoạt, trong lao động sản xuất. Giờ thì ít mặc lắm, chủ yếu mặc trang phục của người Kinh thôi”. Sau năm 1979, người Ngái lần đầu tiên được tách ra khỏi dân tộc Hoa để trở thành một tộc người riêng, có những đặc trưng khác với người Hoa.
Có ý kiến cho rằng việc tách nhóm Ngái khỏi người Hán là chính sách phân hóa của Việt Nam để làm giảm cố kết của họ với các nhóm người gốc Hán. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng việc tách người Ngái khỏi dân tộc Hoa là có cơ sở khoa học và là một cách để chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc. Kể từ khi người Ngái 13 được công nhận là một tộc người riêng biệt đến nay vẫn chưa được giới dân tộc học và nhân học quan tâm đúng mức. Chính vì vậy các công trình nghiên cứu về người Ngái ở Việt Nam còn rất ít.
Những nghiên cứu ít ỏi và sơ lược có nhắc đến các nhóm nói tiếng Ngái và Hắc cá/Khách gia không thấy có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về người Ngái. Đặc biệt các công trình nghiên cứu những giá trị văn hóa, văn học của dân tộc Ngái là vô cùng ít ỏi và mờ nhạt. Dân tộc Ngái có sự biến động và luôn thay đổi về dân số. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, có 4.841 người Ngái; nhưng sau 10 năm, trong cuộc Tổng điều tra dân số năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người (giảm 3.806 người), có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Tính đến năm 2015, số liệu điều tra 53 dân tộc thiểu số của Ủy ban Dân tộc, cả nước có 999 người Ngái; nhưng gần đây theo Tổng điều tra dân số ở Việt Nam tính đến 01/04/2019 có 1649 người Ngái trên cả nước. Nguyên nhân của tình trạng này là do sau những biến cố trong quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc hoặc một số người Ngái khai đổi thành tộc danh của các tộc người sống cận cư (Sán Dìu, Tày, Nùng, …). Hoặc những năm gần đây một số người Ngái ở Quảng Ninh, ở Bắc Giang họ đã kê khai là người Hoa trong thành phần dân tộc của họ mặc dù họ luôn luôn tự nhận mình là người Ngái, họ nói tiếng Ngái (?). Dân tộc Ngái có nhiều đặc trưng phân biệt với các dân tộc khác, tuy nhiên tộc người Ngái lại có quan hệ gần gũi là người Hoa.
Họ sống trên mọi miền trên đất nước Việt Nam, họ không sống thành bản, làng riêng biệt giống một số dân tộc thiểu số khác mà sống xen kẽ với các dân tộc cận cư khác như người Kinh, người Hoa, người Sán Dìu. Các dân tộc có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội. Từ đó có sự giao thoa về văn hóa, văn học của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú cho nền văn hóa, văn học dân tộc.