Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUÂN ĐỘI 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách địa phương trong quân đội 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đầu tư xây dựng cơ bản Theo Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2007) có định nghĩa về đầu tư như sau: “Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó” Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) và kết quả các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định.
Như vậy, có thể hiểu đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa hoặc khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phần của đầu tư phát triển, đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Các công trình đầu tư XDCB hướng đến là công trình giao thông, thủy lợi, thủy điện, cầu cảng, xây dựng nhà cửa, công sở, nhà máy phục vụ sản xuất phát triển kinh tế; các công trình phúc lợi xã hội như nhà văn hóa, công viên, rạp chiếu…phục vụ phát triển xã hội. Như vậy, XDCB có đặc thù riêng đó là lợi 7 nhuận của nó phục vụ cho mọi người, mọi ngành trong xã hội, nguồn vốn đầu tư lớn cần có sự đầu tư của nhà nước. Vốn đầu tư XDCB Theo Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2007) thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản được định nghĩa: “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân”. Theo Thái Bá Cẩn (2003), vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản.
Dưới giác độ chúng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN cũng như các nguồn vốn đầu tư khác là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư bao gồm các chi phí đầu tư phục vụ cho hoạt động này. Theo Luật đầu tư (2005): “Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp” Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Ngân sách địa phương Theo Luật Ngân sách Nhà nước (2015), Ngân sách địa phương là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của chính quyền địa phương. Ngân sách địa phương là nguồn lực để chính quyền địa phương thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội, cùng với ngân sách trung ương góp phần phát triển kinh tế của cả nước.
Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp 8 cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho NSĐP và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Bản chất của Ngân sách địa phương là các mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa chính quyền địa phương với chính quyền trung ương, giữa chính quyền địa phương với các chủ thể khác như tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước và các cấp chính quyền địa phương với nhau trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSĐP. Ngân sách địa phương có những vai trò sau: + Duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương. + Đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền địa phương.
+ Tác động tới sự ổn định và phát triển bền vững của tài chính quốc gia. Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương trong Quân đội Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương (NSĐP) là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Dưới giác độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương cũng như các nguồn vốn khác - đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư. Từ khái niệm “Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một phần của vốn đầu tư phát triển của NSNN được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm xây dựng và phát triển cơ sơ vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội cho nền kinh tế quốc dân”.
Ta có thể hiểu “Vốn đầu tư XDCB từ NSĐP làm một phần của vốn đầu tư phát triển của Ngân sách địa phương hình thành từ sự huy động của địa phương dùng để chi cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm xây dựng và phát triển cơ sơ vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội cho nền kinh tế quốc dân”. (Mai Văn Bưu, 2008) 9 Phân loại vốn đầu tư XDCB từ NSĐP trong Quân đội * Theo tính chất công việc của hoạt động XDCB: vốn được phân thành chi phí xây lắp (nay gọi là xây dựng), chi phí thiết bị + doanh cụ, chi phí quản lý dự án, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi khác và chi phí dự phòng. Trong đó, chi phí xây dựng và thiết bị chiếm tỷ trọng chủ yếu. * Căn cứ vào nguồn hình thành, tính chất vốn và mục tiêu đầu tư, người ta phân chia thành các nhóm chủ yếu sau: Một là, nhóm vốn đầu tư XDCB tập trung của NSĐP.
Nhóm này lại bao gồm: vốn XDCB tập trung, vốn sự nghiệp có tích chất đầu tư xây dựng, vốn đầu tư cho các chương trình mục tiêu, vốn ngân sách xã dành cho đầu tư XDCB. - Vốn XDCB tập trung: là loại vốn lớn nhất về cả quy mô và tỷ trọng. Việc thiết lập cơ chế chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB chủ yếu hình thành từ loại vốn này và sử dụng một cách rộng rãi cho nhiều loại vốn khác. - Vốn sự nghiệp có tích chất đầu tư xây dựng: Hàng năm ngân sách có bố trí vốn để phát triển một số sự nghiệp như giao thông, địa chất, đường sắt,.
nhưng việc sử dụng vốn này lại bố trí cho một số công trình xây dựng hoặc sửa chữa công trình nên được áp dụng cơ chế quản lý như vốn đầu tư XDCB. - Vốn cho các chương trình mục tiêu: Hiện có 10 chương trình mục tiêu quốc gia và hàng chục chương trình mục tiêu khác. - Vốn ngân sách xã dành cho đầu tư XDCB: loại vốn này thuộc ngân sách cấp xã với quy mô không lớn, đầu tư chủ yếu cho các công trình ở xã. Việc quản lý nguồn vốn này cũng áp dụng cơ chế quản lý vốn như đối với các loại vốn XDCB tập trung khác, tuy nhiên có một số chi tiết linh hoạt và đơn giản hơn.
Hai là, nhóm vốn đầu tư XDCB từ NSĐP dành cho chương trình mục tiêu đặc biệt như: Chương trình đầu tư cho xã nghèo đặc biệt khó khăn (Chương 10 trình 135); Chương trình 134 đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình 5 triệu ha rừng (Chương trình 661). Ba là, nhóm vốn vay, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài. Nguồn vay vốn vay trong nước chủ yếu là trái phiếu chính phủ (vay trong nước của nhân dân để đầu tư vào giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế). Nguồn vốn vay ngoài nước chủ yếu là vay các tổ chức tài chính, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và một số nguồn vay khác.
Bốn là, nhóm vốn đầu tư theo cơ chế đặc biệt như đầu tư cho các công trình an ninh quốc phòng trên địa bàn trọng điểm, công trình khẩn cấp (chống bão lũ), công trình tạm. Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSĐP trong Quân đội Khái niệm về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSĐP trong quân đội Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huyền và các cộng sự (2012) thì quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đặt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”. Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong Quân đội là tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức mà nhà nước tác động vào quá trình hình thành (huy động), phân phối (cấp phát) và sử dụng vốn từ NSNN để đạt các mục, an ninh quốc phòng đề ra trong từng giai đoạn. (Dương Đăng Chính, 2007) Vì vậy, ta có thể hiểu Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSĐP trong Quân đội là tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức mà nhà nước tác động vào quá trình hình thành (huy động), phân phối (cấp phát) và sử dụng vốn từ NSNN để đạt các mục, an ninh quốc phòng đề ra trong từng giai đoạn.
Đặc điểm, vai trò của quản lý đầu tư XDCB từ ngân sách địa phương trong quân đội 11 1.