Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 1. Quản lý Nhà nước về văn hóa và quản lý văn hóa cấp huyện 1. Khái niệm văn hóa Có rất nhiều quan niệm/định nghĩa về văn hoá. Một số nhà nghiên cứu mácxít cho rằng: Văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội thể hiện trình độ phát triển năng lực bản chất của con người mà cốt lõi là lao động, sáng tạo và tư duy trong việc cải tạo, chinh phục tự nhiên, cải tạo xây dựng xã hội, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người theo hướng vươn tới những cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Những lực lượng bản chất người đó phải được đối tượng hoá, khách quan hoá, chuẩn mực hoá thành toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần dưới dạng quá trình và dưới dạng trạng thái mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Năm 1988, UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), Tiến sĩ Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã nêu: ‘Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc”[15, tr. Đáng lưu ý, văn hoá không phải là một thực thể tồn tại tự nó, tồn tại bên ngoài đời sống con người và xã hội, mà văn hoá là hoạt động của con người, chứa đựng các tri thức và kinh nghiệm nhằm tôn vinh, phát triển con người và làm cho xã hội có tình người.
Con người khi mới sinh ra phải tiếp nhận ảnh hưởng của môi trường tồn tại: thế giới vật thể, thế giới tinh thần, văn hoá, thể chế nhà nước, pháp luật, tín ngưỡng, tôn giáo. Tất cả tạo thành 19 môi trường văn hoá đã chuẩn bị sẵn để con người tồn tại và phát triển. Như vậy, văn hoá luôn gắn với phát triển, văn hoá là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Quá trình sáng tạo văn hoá của con người và xã hội loài người được diễn ra trong các hoạt động chủ yếu của đời sống xã hội.
Văn hoá là hoạt động của con người và chỉ có ở xã hội người, biểu hiện trình độ nhận thức của con người, thể hiện khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ. Nói văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Văn hoá mang tính lịch sử, tính hệ thống, chứa đựng bản chất nhân văn và mang tính nhân bản. Như vậy, văn hoá trước hết là những giá trị do con người sáng tạo ra, là phương thức ứng xử của con người, đồng thời còn là biểu hiện trình độ tổ chức quản lý xã hội.
Trong đời sống xã hội, con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của văn hóa. Để nghiên cứu về quản lý nhà nước về văn hóa, tác giả luận văn lựa chọn quan niệm chung về văn hóa như sau: Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của loài người nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội. Hoạt động văn hoá là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước. Chính vì thế, quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá là tất yếu khách quan.
Do hoạt động văn hoá là một hoạt động sáng tạo, hoạt động tinh thần, đương thời, còn là hoạt động kinh tế, nên quản lý văn hoá là hoạt động xã hội mang tính đặc thù. Việc quản lý văn hoá được thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến sự phát triển văn hoá. Tuỳ mỗi quốc gia, mỗi truyền thống văn hoá của từng nước, mà có những cách thức quản lý khác nhau. Nội dung, phương cách, biện pháp để quản lý văn hoá cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.
Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa 1. Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội. Nói quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định thông qua nguyên tắc, hình thức, phương pháp thích hợp. Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả.
Như vậy, nó là một quá trình bao gồm chuỗi hoạt động khác nhau để đạt được kết quả mà chủ thể ngầm định đề ra. Để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội. Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý, chúng ta có thể hiểu khái niệm về hoạt động như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Trong hoạt động quản lý, phải có ít nhất phải có một chủ thể quản lý (cá nhân hay cơ quan), và ít nhất một đối tượng quản lý (con người - một cá nhân hay nhiều người, hoặc một bộ phận của giới vô sinh hay sinh vật), gián tiếp hay trực tiếp tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.
Hoạt động quản lý bao giờ cũng nhằm đạt được một mục đích nhất định. Các yếu tố khác tạo nên môi trường của hệ thống, chính là khách thể của hoạt động quản lý. Quản lý nhà nước Nói đến quản lý nhà nước, là nói đến việc quản lý hành chính có tính quyền lực của nhà nước (còn gọi là quyền hành pháp). Quản lý nhà nước là hoạt động diễn ra thường xuyên, hàng ngày, có tổ chức, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân, bằng việc đưa ra các quyết 21 định quản lý mang tính quy phạm.
Có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước như sau: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của nhà nước, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân. Công tác quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi hệ thống pháp nhân công quyền-thiết chế tổ chức hành chính nhà nước. Trong hệ thống đó, đứng đầu là Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, đến các Bộ, các cơ quan hành chính nhà nước TW, các cấp quản lý hành chính Nhà nước địa phương có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng an ninh…, cũng như mọi hoạt động của tổ chức và công dân. Từ khái niệm trên, ta thấy quản lý ở tầm vĩ mô chính là công tác quản lý Nhà nước.
Loại hình quản lý này luôn mang tính quyền lực với đặc trưng tổ chức chặt chẽ và cứng nhắc bởi nó dựa cơ sở các khuôn mẫu pháp lý. Quan hệ giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý trong loại hình này là mối quan hệ không bình đẳng. Chính vì thế trong quản lý Nhà nước mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý luôn luôn mang tính một chiều, bắt buộc nên khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối tượng phải thi hành. Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý đề ra phải được chấp hành nghiêm túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm minh mọi hành vi sai trái hoặc cố ý làm trái dẫn đến kết quả không mong đợi.
Quản lý nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Vì thế, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã định của cấp trên và theo đúng đường lối, chính sách của Đảng. Trên 22 cơ sở quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch đã được xác định cơ quan quản lý các cấp phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý, điều hành, nhằm động viên, phát huy được mọi tiềm năng của các nguồn lực nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền đã được phân công, phân cấp, bảo đảm nguyên tắc tập trung, dân chủ, trách nhiệm quản lý theo ngành và lãnh thổ. Quản lý nhà nước luôn đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, điều đó thể hiện tinh thần tôn trọng khách thể, biết lắng nghe tiếp thu ý kiến của nhân dân.
Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hoá - xã hội hiện đang có những vấn đề bất cập. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế toàn cầu, những thành tựu của công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi cũng tạo ra những tác động qua lại giữa các nền văn hoá giao lưu và hội nhập. Về bản chất, quản lý nhà nước là một hoạt động xã hội đặc trưng luôn mang tính giai cấp. Trong các xã hội có giai cấp đối kháng bản chất của quản lý là đối lập với quần chúng.
Trong xã hội cũ, để giữ yên được trật tự xã hội bao giờ người quản lý cũng tìm cách buộc quần chúng làm theo ý của mình trên cơ sở cưỡng chế buộc mọi người phải phục tùng. Trong lịch sử quản lý phương Đông, chúng ta nhận thấy rõ các mô hình quản lý như: Pháp trị - cai trị bằng pháp luật, bao gồm thứ nhất, là trọng pháp. Đây là hình thức lấy pháp luật làm đầu, không kể thân quen miễn sao đạt được mục tiêu đề ra. Thứ hai, là trọng thế, xuất phát từ quan niệm nước không thể một ngày không có vua, mà vua giỏi thì ít, vì vậy phải tạo ra cho vua một uy thế khác thường để quần chúng nhân dân phục tùng.