Luận văn quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại thành phố Hòa Bình

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về quản lý văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Thành phố Hòa Bình. Phân tích các chiến lược quản lý hiệu quả cho ngành dịch

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình

Quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại thành phố Hòa Bình là lĩnh vực quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Thành phố Hòa Bình, trung tâm văn hóa của tỉnh, sở hữu đa dạng loại hình dịch vụ như biểu diễn nghệ thuật, di sản văn hóa, du lịch trải nghiệm và hoạt động thể dục thể thao. Các dịch vụ này không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần người dân mà còn tạo động lực phát triển kinh tế bền vững. Theo thống kê, hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế địa phương, đặc biệt sau khi thành phố được nâng cấp từ thị xã lên thành phố trực thuộc tỉnh năm 2006. Hệ thống quản lý hiện nay bao gồm nhiều cấp độ từ UBND thành phố đến các phòng ban chuyên môn, phối hợp chặt chẽ với cộng đồng dân tộc thiểu số vốn chiếm đa số dân cư. Việc quản lý hiệu quả lĩnh vực này đòi hỏi sự hài hòa giữa bảo tồn truyền thống và thích ứng với cơ chế thị trường.

1.1. Khái niệm và phân loại dịch vụ văn hóa

Dịch vụ văn hóa được định nghĩa là những hoạt động cung cấp sản phẩm tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức, giải trí và giáo dục của cộng đồng. Tại Hòa Bình, dịch vụ văn hóa bao gồm ba nhóm chính: dịch vụ di sản (bảo tàng, di tích), dịch vụ nghệ thuật biểu diễn (nhà hát, biểu diễn dân gian) và dịch vụ văn hóa đại chúng (karaoke, quán cà phê sách). Đặc biệt, dịch vụ văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số như cồng chiêng, hát xẩm và lễ hội làng bản đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn bản sắc. Theo quy định tại Nghị định 126/2006/NĐ-CP, các dịch vụ này phải tuân thủ nguyên tắc vừa phát triển kinh tế vừa bảo đảm an ninh văn hóa. Thực tế cho thấy sự đa dạng về loại hình dịch vụ phản ánh đặc trưng đa dân tộc của Hòa Bình, từ người Mường, Dao đến Tày, Nùng.

1.2. Đặc điểm địa lý và bối cảnh phát triển

Thành phố Hòa Bình nằm ven sông Đà, nơi giao thoa giữa vùng núi Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng, tạo nên lợi thế phát triển dịch vụ văn hóa độc đáo. Điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và di sản văn hóa phong phú như động Hoa Tiên, đền Thác Bờ. Về mặt kinh tế - xã hội, Hòa Bình có tốc độ đô thị hóa nhanh với 15 đơn vị hành chính, trong đó 8 phường chiếm 70% dân số. Dân cư chủ yếu là người Mường (63%) cùng các dân tộc thiểu số khác, tạo nên nền tảng văn hóa đa dạng. Sự phát triển của giao thông (quốc lộ 6, đường cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình) đã kết nối thành phố với các vùng lân cận, mở rộng thị trường tiêu thụ dịch vụ văn hóa. Bối cảnh này đòi hỏi hệ thống quản lý phải linh hoạt thích ứng với sự biến động của nhu cầu xã hội.

II. Thực trạng và thách thức trong quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Hiện nay, công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế và đô thị hóa. Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể như thành lập Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố và ban hành 15 văn bản quản lý chuyên ngành, nhưng hệ thống quản lý vẫn tồn tại nhiều bất cập. Thực tế cho thấy tình trạng chồng chéo chức năng giữa các cấp quản lý, thiếu sự phối hợp giữa ngành văn hóa với ngành du lịch và thương mại. Hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thành phố, trong khi các xã vùng sâu vùng xa chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, tình trạng kinh doanh trái phép các sản phẩm văn hóa phẩm lậu, hoạt động karaoke không phép vẫn diễn ra phổ biến do công tác thanh tra kiểm tra chưa triệt để. Chỉ số phát triển dịch vụ văn hóa trên đầu người tại Hòa Bình còn thấp hơn trung bình vùng Tây Bắc. Đặc biệt, sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quản lý văn hóa trở thành rào cản lớn cho phát triển bền vững.

2.1. Bộ máy quản lý và cơ chế hoạt động

Bộ máy quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình được tổ chức theo mô hình hành chính từ tỉnh đến cơ sở, với Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố đóng vai trò nòng cốt. Cơ chế hoạt động dựa trên sự phân cấp quản lý theo ngành dọc từ Sở Văn hóa - Thể thao tỉnh đến UBND thành phố. Các đơn vị chức năng gồm phòng tuyên truyền, phòng nghệ thuật, phòng quản lý di sản và phòng kinh doanh dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ hạn chế khi xảy ra tình trạng chồng chéo trách nhiệm giữa các phòng ban, thiếu sự thống nhất trong triển khai chính sách. Cơ chế phối hợp liên ngành giữa văn hóa, du lịch, công an và y tế còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng xử lý vi phạm chậm trễ. Bên cạnh đó, việc thiếu nguồn lực tài chính và cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý. Theo báo cáo năm 2014, chỉ 60% trang thiết bị phục vụ quản lý đạt tiêu chuẩn.

2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa

Hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình tập trung chủ yếu vào bốn lĩnh vực chính: biểu diễn nghệ thuật, di sản văn hóa, du lịch trải nghiệm và giải trí đại chúng. Theo thống kê, thành phố có 12 nhà hát, rạp chiếu phim hoạt động không đều do thiếu khán giả thường xuyên. Hoạt động biểu diễn dân gian như cồng chiêng, múa xòe thu hút khách du lịch nhưng chưa được khai thác đúng mức do thiếu kịch bản chuyên nghiệp. Lĩnh vực du lịch trải nghiệm phát triển nhanh với 8 điểm di tích cấp tỉnh, nhưng tình trạng khai thác ồ ạt đã gây ảnh hưởng đến bảo tồn di sản. Hoạt động karaoke, quán cà phê sách phát triển mạnh nhưng thiếu sự kiểm soát, dẫn đến tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm tiếng ồn. Chỉ có 40% doanh nghiệp trong lĩnh vực này đăng ký hoạt động đúng theo quy định. Mức thu lệ phí quản lý văn hóa hàng năm đạt khoảng 1,2 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với tiềm năng của địa phương.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

Để khắc phục những tồn tại hiện nay, thành phố Hòa Bình cần triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa. Trọng tâm là xây dựng hệ thống quản lý thống nhất từ cấp tỉnh đến cơ sở, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý bằng việc ban hành các nghị quyết chuyên ngành về phát triển dịch vụ văn hóa, trong đó chú trọng bảo vệ bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ. Thứ hai, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực thông qua hợp tác với các trường đại học văn hóa, tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ quản lý. Giải pháp thứ ba là đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ bằng cách phát triển các tour du lịch văn hóa trải nghiệm, kết hợp giữa bảo tồn di sản và trải nghiệm thực tế. Ngoài ra, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, quản lý vé và thanh toán điện tử. Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các đô thị văn hóa tiên tiến.

3.1. Hoàn thiện chính sách và pháp luật quản lý

Hiện nay, khung pháp lý quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình vẫn còn nhiều kẽ hở, đặc biệt trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và bảo vệ bản quyền. Theo quy định tại Luật Di sản văn hóa 2013 và Nghị định 126/2006/NĐ-CP, cần bổ sung các điều khoản cụ thể về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa trên không gian mạng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ. Đối với lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm văn hóa, từ nội dung nghệ thuật đến điều kiện vệ sinh an toàn. Về quản lý di sản, cần tăng cường chế tài xử phạt đối với hành vi khai thác trái phép di tích, trong khi khuyến khích doanh nghiệp tham gia bảo tồn thông qua cơ chế miễn giảm thuế. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa Sở Văn hóa - Thể thao, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng các ngành liên quan để thống nhất quản lý.

3.2. Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngành dịch vụ văn hóa. Tại Hòa Bình, cần triển khai chương trình đào tạo liên tục cho cán bộ quản lý, trong đó kết hợp giữa lý thuyết quản lý văn hóa hiện đại và thực tiễn địa phương. Các khóa đào tạo nên tập trung vào kỹ năng quản lý dự án văn hóa, marketing dịch vụ văn hóa và ứng dụng công nghệ số. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sinh viên các trường văn hóa, nghệ thuật về công tác tại địa phương thông qua chính sách ưu đãi về nhà ở và lương thưởng. Đối với ứng dụng công nghệ, thành phố nên đầu tư xây dựng hệ thống quản lý thông tin dịch vụ văn hóa tập trung, cho phép theo dõi hoạt động kinh doanh theo thời gian thực. Việc triển khai hóa đơn điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt trong lĩnh vực dịch vụ văn hóa cũng cần được đẩy mạnh để ngăn chặn gian lận thương mại.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho quản lý dịch vụ văn hóa

Quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại thành phố Hòa Bình đang đứng trước thời cơ phát triển lớn nhờ vị trí địa lý chiến lược và nguồn tài nguyên văn hóa phong phú. Tuy nhiên, những thách thức về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật đang kìm hãm tiềm năng của ngành. Để nâng cao hiệu quả quản lý, thành phố cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật, đầu tư phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu áp dụng đầy đủ các giải pháp, chỉ số phát triển dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình có thể tăng 30% trong vòng 5 năm tới. Điều quan trọng là phải xây dựng chiến lược dài hạn, trong đó bảo tồn bản sắc văn hóa luôn đi đôi với phát triển kinh tế. Thành phố Hòa Bình có đủ tiềm năng trở thành trung tâm văn hóa của vùng Tây Bắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

4.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu và triển vọng phát triển

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình đang đối mặt với ba nhóm thách thức chính: thể chế, nguồn lực và nhận thức. Thực tế cho thấy hệ thống quản lý còn nhiều bất cập khi xảy ra tình trạng chồng chéo chức năng giữa các cấp, thiếu sự phối hợp liên ngành. Nguồn nhân lực thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là những người am hiểu cả quản lý văn hóa lẫn kinh doanh. Triển vọng phát triển trong giai đoạn tới phụ thuộc vào khả năng huy động nguồn lực xã hội, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng. Theo dự báo, nếu áp dụng đầy đủ các giải pháp đề xuất, doanh thu từ dịch vụ văn hóa có thể đạt 500 tỷ đồng/năm vào năm 2025, tăng gấp đôi so với hiện nay. Điểm sáng là sự quan tâm ngày càng lớn của cộng đồng đối với bảo tồn di sản văn hóa, thể hiện qua phong trào xây dựng gia đình văn hóa đạt 84,12% hộ gia đình.

4.2. Định hướng nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai

Trong giai đoạn tới, nghiên cứu cần tập trung vào hai hướng chính: thứ nhất là đánh giá tác động của công nghệ số đến quản lý dịch vụ văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ; thứ hai là xây dựng mô hình quản lý bền vững phù hợp với đặc thù văn hóa đa dân tộc của Hòa Bình. Các nghiên cứu tiếp theo nên áp dụng phương pháp nghiên cứu hành động, trong đó nhà quản lý và nhà nghiên cứu cùng tham gia giải quyết vấn đề thực tiễn. Đối với ứng dụng thực tiễn, thành phố cần xây dựng kế hoạch 5 năm triển khai các giải pháp, trong đó ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý và đào tạo nguồn nhân lực. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển các sản phẩm dịch vụ văn hóa có tính cạnh tranh cao, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Việc tăng cường hợp tác quốc tế cũng là hướng đi quan trọng để học hỏi kinh nghiệm từ các đô thị văn hóa tiên tiến trên thế giới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ HÒA BÌNH 1. Lý luận chung về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 1. Khái niệm quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa 1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ văn hóa Khi nói về dịch vụ văn hoá có thể hiểu theo hai cấp độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.

Có thể nói toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đều được coi là những sản phẩm của văn hoá. Do vậy trong bất kì hoạt động dịch vụ nào cũng chứa đựng yếu tố văn hoá. Nó là tâm hồn, tình cảm và trí tuệ của con người được kết tinh trong từng sản phẩm, chẳng hạn dịch vụ thương nghiệp không đơn thuần là hoạt động đáp ứng nhu cầu của xã hội về mặt vật chất mà còn có khả năng kích thích năng lực thẩm mỹ của người mua lẫn người bán thông qua các sản phẩm với hình thức đẹp, chất lượng tốt, có giá trị thẩm mỹ cao. Mặt khác nó còn thể hiện khả năng ứng xử có văn hoá giữa con người với con người cũng như con người với tự nhiên, xã hội.

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ văn hoá là những hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá mà ngành văn hóa thông tin quản lý về nội dung và các ngành khác có vai trò quản lý về phương diện kinh tế - xã hội, hành chính… Hiện nay, vấn đề dịch vụ văn hoá được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận ở những góc độ khác nhau, do đó có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có điểm tương đồng là: coi dịch vụ văn hoá như một hoạt động đặc thù, là một hình thức truyền tải các giá trị văn hoá tới khách thể - công chúng văn hoá, cụ thể: 13 Coi dịch vụ văn hoá là một tổ hợp các hình thức tổ chức lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá của người dân, thông qua các cơ sở dịch vụ văn hoá hoặc các hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của các thiết chế văn hoá khác. Dịch vụ văn hoá như một hình thức cung cấp, không phải là hàng hoá vật chất mà là cung cấp dịch vụ có hình thức kỹ thuật riêng trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Qua các quan niệm đó có thể hiểu: dịch vụ văn hóa là một hoạt động đặc thù, thông qua các cơ sở dịch vụ, các thiết chế văn hóa để đưa văn hóa đến với công chúng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của người dân. - Theo một phương diện nào đó, hoạt động dịch vụ văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa cho số đông, có tổ chức và được trả công.

Hoạt động dịch vụ văn hóa là những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần. Nhằm phổ biến, truyền bá những tư tưởng, ý nghĩa và những sản phẩm văn hóa của con người và cũng chính là để nâng cao chất lượng sống của con người trong xã hội. KDDVVH là các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức từ sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa của cá nhân hoặc tổ chức đó. Khái niệm quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa - Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý, chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.

14 Trên cơ sở đó có thể xác định Quản lý KDDVVH như sau: Quản lý KDDVVH là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động KDDVVH nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân. Phân loại dịch vụ văn hóa Hiện nay Nhà nước quy định về dịch vụ văn hóa như sau: Theo điều 2 Hoạt động văn hóa và KDDVVH công cộng, ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ quy định: “lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hoá, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác”. Căn cứ vào các bộ luật của Quốc hội ban hành và căn cứ vào những yêu cầu của thực tiễn, Chính phủ tiếp tục ban hành các Quyết định, Nghị định hướng dẫn thi hành luật và thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước của Chính phủ đối với thị trường KDDVVH. Đó là một số Nghị định, Quyết định quan trọng như: “Nghị định 97/CP ngày 6/11/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật xuất bản”, “Nghị định số 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng”, “Quy chế lưu hành kinh doanh băng đĩa hình, đĩa ca nhạc, bán và cho thuê xuất bản phẩm quảng cáo, viết đặt biển hiệu” (ban hành theo Nghị quyết 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ), Nghị định 88/CP ngày 14/12/1995 về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hóa… Nghị định 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ quy định về việc ban hành quy chế Hoạt động văn hóa và KDDVVH công cộng… cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

15 Các văn bản pháp luật này là cơ sở tiền đề để Bộ VHTTDL và các cơ quan quản lý thị trường KDDVVH thực hiện các công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất KDDVVH trên thị trường cả nước. Trên cơ sở các quy định của Chính phủ, Bộ VHTTDL tiếp tục ra các Thông tư hướng dẫn quy định hoạt động sản xuất KDDVVH và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan trực thuộc thực hiện vai trò quản lý Nhà nước của mình trong đó có nhiều thông tư quan trọng như: Thông tư số 04/2009/TT-Bộ VHTTDL ngày 16 tháng 12 năm 2009 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hóa và KDDVVH công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ… Các văn bản pháp luật này là cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý Nhà nước về thị trường KDDVVH thực hiện chức năng quản lý của mình. Theo quy chế trên của Chính phủ, chúng ta có thể làm rõ đặc trưng các hình thức dịch vụ văn hoá như sau: - Lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu Băng, đĩa ca nhạc, sân khấu bao gồm: băng cát - xét, băng video, đĩa CD, VCD, DVD, CD-ROM, đĩa vi tính, IC chips, USB và các loại phương tiện, thiết bị, vật liệu khác có nội dung ca nhạc, sân khấu, thời trang, hoa hậu, hoa khôi, người đẹp, thể thao, sau đây gọi chung là băng, đĩa ca nhạc, sân khấu. Băng, đĩa ca nhạc, sân khấu được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt và cấp giấy phép mới được lưu hành rộng rãi.

Băng, đĩa ca nhạc, sân khấu được phép lưu hành rộng rãi phải dán nhãn kiểm soát theo quy định. Tổ chức, cá nhân kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu chỉ được nhân bản và phổ biến băng, đĩa đã được phép lưu hành, bán, cho thuê băng, đĩa đã dán nhãn kiểm soát theo quy định. 16 - Biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang trước công chúng phải có giấy phép công diễn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Với đặc điểm tổ chức thành các chương trình, vở diễn theo chủ đề, quy mô, phạm vi khác nhau: có những chương trình, vở diễn hoành tráng, công phu và có những chương trình, vở diễn gọn nhẹ trong các nhà hàng, khách sạn hoặc các quán cafe âm nhạc, bóng đá âm nhạc… Khi các cơ sở kinh doanh sử dụng loại hình dịch vụ này người quản lý hạch toán thu chi và tìm mọi cách làm sao để thu lợi nhuận cho chủ cơ sở kinh doanh.

Vì lợi nhuận người ta tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (thậm chí là những nhu cầu thái quá), chính vì vậy chúng ta cần quan tâm đến chất lượng vở diễn, chất lượng chương trình. - Hoạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác Bao gồm: Game; dịch vụ thông tin: email, chat, facebook; xem phim trực tuyến, … Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển của xã hội và nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, dịch vụ thông tin đã chứng tỏ được sự vô cùng tiện ích và là thứ không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Chỉ cần ngồi một chỗ chúng ta có thể liên lạc với toàn thế giới, theo dõi những diễn biến mới nhất của hành tinh, cập nhật thông tin hay tìm kiếm kiến thức một cách nhanh chóng và chính xác. Giao lưu trực tuyến bằng hình ảnh, tiếng nói và chữ viết… Sự tiện lợi và hữu ích của dịch vụ thông tin là không thể phủ nhận.

Nhưng bên cạnh đó, mặt trái của dịch vụ thông tin đã gây hậu quả khôn lường, đó là tình trạng gây thật giả lẫn lộn về thông tin, thế giới ảo trên mạng đã khiến một bộ phận thanh thiếu niên quên đi thế giới thực tại, đắm chìm vào 17 thế giới ảo gây ra các tác động tiêu cực về tinh thần và thể chất. Ngoài ra có những người lợi dụng dịch vụ thông tin để đưa đến người xem những phim, ảnh có nội dung đồi trụy, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. - Viết, đặt biển hiệu Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới, cải thiện, áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, giữ mức giá cả hợp lý, đưa sản phẩm có quy mô, mẫu mã, hình thức mới, đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ