CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Nhà nước thiết lập hệ thống ĐVSNCL để đảm nhận nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực, trong đó, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao chiếm số lượng lớn. Trong đó, đặc trưng của ĐVSNCL để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, ĐVSN ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức [30, tr.
ĐVSNCL là đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, để thực hiện một số chức năng nhiệm vụ do Nhà nước giao, trong đó chủ yếu là cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội. ĐVSNCL có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Hoạt động của ĐVSNCL có những điểm khác với cơ quan hành chính nhà nước.Cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình, cung ứng các dịch vụ hành chính công.Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước mới có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó [14, tr. Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế; Quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường một cách đầy đủ: người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó khi hưởng thụ.
Trong khi đó, do dịch vụ của ĐVSNCL cung ứng có thể có sự tham gia cạnh tranh của khu vực tư nhân nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình, người sử dụng dịch vụ có thể phải chi trả cho việc sử dụng dịch vụ nên hình thành quan hệ mua bán, trao đổi [14, tr. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Các ĐVSNCL không chỉ đông đảo về số lượng, mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại ĐVSNCL rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại [1]. - Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, ĐVSNCL có thể chia thành 05 loại sau: + ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ: bao gồm các ĐVSNCL được quy định tại các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (như các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí; trung tâm thông tin hoặc tin học; trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) và các ĐVSNCL trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+ ĐVSNCL thuộc Tổng cục, Cục. + ĐVSNCL thuộc UBND cấp tỉnh như Đài phát thanh - truyền hình tỉnh, các trường Cao đẳng trực thuộc UBND tỉnh… + ĐVSNCL thuộc cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh như các bệnh viện trực thuộc Sở y tế, các trường THPT trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo, các ĐVSNCL thuộc Sở Khoa học công nghệ, Sở Văn hoá thể dục thể thao… + ĐVSNCL thuộc UBND cấp huyện như Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện, các trường học… - Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSNCL có thể trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hoá, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. - Căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính: + Trước đây, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định có 02 loại ĐVSNCL có thu gồm: Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên và đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên [8]. + Tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2016 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL, xác định có 03 loại ĐVSNCL: 9 ĐVSNCL tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên; ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên; ĐVSNCL do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động [9].
+ Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL đã chia ĐVSNCL thành 04 loại: ĐVSNCL công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; ĐVSNCL công tự bảo đảm chi thường xuyên; ĐVSNCL công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí); ĐVSNCL công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền) [10]. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập ĐVSNCL có những đặc trưng cơ bản sau: Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội.Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước.Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức các chương trình mục tiêu quốc gia như nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả.Nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận có thể lấn át mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội [14, tr.
Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập Quản lý tài chính ĐVSNCL là một nội dung của quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó trong quản lý tài chính công các 10 vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ [14]. Trong hoạt động quản lý tài chính ĐVSNCL, chủ thể quản lý là Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước.Chủ thể trực tiếp quản lý tài chính ĐVSNCL là bộ máy tài chính trong hệ thống cơ quan nhà nước. Đối tượng của quản lý tài chính ĐVSNCL là các hoạt động tài chính của các ĐVSNCL.
Đó cũng chính là các nội dung chủ yếu của quản lý tài chính ĐVSNCL [16, tr. Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập 1. Nguồn từ Ngân sách nhà nước Nguồn Ngân sách nhà nước cho các hoạt động sự nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành, mở rộng và nâng cao hiệu quả của các dịch vụ công đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người dân. Đầu tư từ ngân sách nhà nước ở hầu hết các nước đều ưu tiên cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao.
Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước cấp cho các ĐVSNCL thường căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, phát thanh truyền hình. Các định mức này được xây dựng theo các tiêu chí khác nhau như dân số, cơ cấu dân số, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ học sinh nhập học, dân số trong độ tuổi đến trường, số giường bệnh, biên chế [16]… Ở nước ta, hệ thống các trường học, bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ lớn, việc phát triển các trường bán công, dân lập, các bệnh viện tư chưa nhiều. Trong lĩnh vực khoa học công nghệ thì phần lớn là các trung tâm, viện nghiên cứu và phát triển, các phòng thí nghiệm, các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ. đều là các ĐVSNCL.
Về văn hóa, thể thao, phát thanh, truyền hình. cũng tương tự như vậy. Bên cạnh đó, quá trình xã hội hóa nhằm thu hút các nguồn lực khác cho các hoạt động sự nghiệp chưa được hoàn thiện và còn những bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện, nên đầu tư từ ngân sách nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các đơn vị các sự nghiệp của cả nước [16, tr. Kinh phí do NSNN cấp bao gồm: 11 Kinh phí bảo đảm cho các hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với ĐVSNCL do Nhà nước đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên, ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (sau khi đã cân đối các nguồn thu sự nghiệp), được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); Kinh phí thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng; Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định; Vốn đầu tư phát triển, xây dựng cơ bản; mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm; Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Kinh phí khác (nếu có) [16, tr.
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị thể hiện mối quan hệ giữa người hưởng dịch vụ phải trả tiền và người cung ứng dịch vụ.