Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng quận Hoàn Kiếm, HN - Ngô Thị Thanh Hòa

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội": { "ai_description": "Tìm hiểu quản lý nhà nước về

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng

Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra các quy định pháp luật liên quan đến phong trào thi đua và công tác khen thưởng. Đây là lĩnh vực quản lý công quan trọng, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thanh Hòa, hoàn thành năm 2019 tại Học viện Hành chính Quốc gia, nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Quận Hoàn Kiếm thành lập năm 1961, diện tích 5,28 km2, dân số khoảng 220 nghìn người với mật độ 40.000 người/km2. Đây là trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế và văn hóa của Hà Nội. Vị trí đặc biệt tạo ra nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt ra thách thức lớn trong công tác quản lý, trong đó có thi đua khen thưởng. Bộ máy quản lý gồm Quận ủy, UBND quận và các phòng ban chuyên môn cùng UBND 18 phường trực thuộc.

1.1. Khái niệm thi đua khen thưởng và quản lý nhà nước

Thi đua là hoạt động có tổ chức, được phát động rộng rãi nhằm khuyến khích tập thể và cá nhân phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương và tôn vinh những cống hiến, thành tích xuất sắc. Quản lý nhà nước (QLNN) là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật, chính sách và các công cụ khác để điều chỉnh hành vi xã hội. QLNN về thi đua khen thưởng là tác động của chủ thể quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu phát triển xã hội trên cơ sở pháp luật.

1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng

QLNN về thi đua khen thưởng có bốn vai trò cốt lõi. Thứ nhất, tạo động lực làm việc cho người lao động thông qua các phong trào thi đua thiết thực. Thứ hai, phát huy tiềm năng và sức sáng tạo của cá nhân, tập thể trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương và đất nước. Thứ tư, đảm bảo sự công bằng, khách quan trong đánh giá và tôn vinh thành tích, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước.

II. Thực trạng quản lý thi đua khen thưởng tại quận Hoàn Kiếm

Công tác quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng tại quận Hoàn Kiếm đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong giai đoạn 2014-2018. UBND quận đã ban hành các văn bản hướng dẫn, tổ chức phát động phong trào thi đua rộng khắp trên địa bàn. Các hội đồng thi đua khen thưởng hoạt động theo quy định, đảm bảo tính minh bạch và công khai. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một số hạn chế đáng chú ý. Việc triển khai phong trào thi đua ở một số đơn vị còn mang tính hình thức. Tiêu chí khen thưởng đôi khi chưa sát với thực tiễn. Đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng tại các phường còn thiếu về số lượng và hạn chế về chuyên môn. Nguồn kinh phí dành cho hoạt động này chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn. Địa bàn quận có mật độ dân số cao, nhiều loại hình tổ chức đa dạng khiến công tác quản lý, theo dõi, đánh giá thành tích gặp nhiều khó khăn. Đây là những vấn đề cần được phân tích kỹ lưỡng để tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Kết quả đạt được trong công tác thi đua khen thưởng

UBND quận Hoàn Kiếm đã xây dựng được hệ thống văn bản hướng dẫn đồng bộ, phù hợp với đặc thù địa bàn. Hội đồng thi đua khen thưởng quận hoạt động ổn định, xét duyệt hồ sơ khen thưởng đúng thời hạn. Các phong trào thi đua như lao động giỏi, lao động sáng tạo được triển khai rộng khắp 18 phường. Nhiều tập thể, cá nhân xuất sắc được khen thưởng kịp thời, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong cộng đồng và cơ quan nhà nước trên địa bàn quận.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý thi đua khen thưởng

Một số hạn chế nổi bật gồm: phong trào thi đua còn hình thức tại một số đơn vị cơ sở; tiêu chí đánh giá chưa phân hóa rõ ràng giữa các loại hình tổ chức; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu do cán bộ phụ trách thường kiêm nhiệm nhiều việc, chưa được đào tạo chuyên sâu. Nguồn kinh phí hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng tổ chức phong trào. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về ý nghĩa thi đua khen thưởng còn chưa đầy đủ.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý thi đua khen thưởng quận Hoàn Kiếm

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, cần thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Trước tiên, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy chế nội bộ, đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa bàn và các quy định mới nhất của Luật Thi đua, Khen thưởng. Tiếp theo, cần kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ chuyên trách có năng lực tại các đơn vị cơ sở. Đổi mới nội dung và hình thức phong trào thi đua theo hướng thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng ngành, từng đơn vị. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ khen thưởng, rút ngắn thời gian xét duyệt. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân. Tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất, xử lý nghiêm các vi phạm trong công tác khen thưởng nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch.

3.1. Giải pháp về thể chế và tổ chức bộ máy

Rà soát, bổ sung các văn bản hướng dẫn về thi đua khen thưởng phù hợp với đặc thù quận trung tâm đô thị. Kiện toàn Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp, phân định rõ trách nhiệm từng thành viên. Bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có năng lực tại các phường. Đầu tư ngân sách hợp lý, kết hợp huy động nguồn xã hội hóa để tổ chức phong trào thi đua hiệu quả hơn, không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.

3.2. Giải pháp về đào tạo cán bộ và ứng dụng công nghệ

Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ thi đua khen thưởng cho cán bộ tại 18 phường và các đơn vị trực thuộc. Xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ khen thưởng trực tuyến, giảm thiểu thủ tục hành chính. Đẩy mạnh học tập kinh nghiệm từ các quận, huyện có mô hình quản lý tốt. Thiết lập kênh phản hồi để các tổ chức, cá nhân góp ý về quy trình xét khen thưởng, từ đó cải tiến liên tục quy trình quản lý.

IV. Kết luận và bài học kinh nghiệm từ luận văn thạc sĩ quản lý công

Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng tại quận Hoàn Kiếm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị tham khảo cao cho các nhà quản lý địa phương. Nghiên cứu khẳng định thi đua khen thưởng không chỉ là hoạt động hành chính thuần túy mà là công cụ quan trọng để phát huy nguồn lực con người, xây dựng văn hóa làm việc tích cực trong khu vực công. Quận Hoàn Kiếm với vị trí trung tâm Thủ đô, mật độ dân số và tổ chức cao, là địa bàn đặc thù đòi hỏi cách tiếp cận quản lý linh hoạt, sáng tạo. Những giải pháp được đề xuất trong luận văn có tính khả thi cao, dựa trên phân tích dữ liệu thực tế và đối chiếu với khung pháp lý hiện hành. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi cho các quận nội thành Hà Nội và các đô thị trung tâm khác trên cả nước. Đây là tài liệu hữu ích cho học viên cao học ngành quản lý công, cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng và các nhà hoạch định chính sách.

4.1. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN trong lĩnh vực thi đua khen thưởng, phân tích thực trạng giai đoạn 2014-2018 tại quận Hoàn Kiếm. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về lĩnh vực này tại địa bàn quận, bổ sung dữ liệu thực chứng cho khoa học quản lý công. Các đề xuất giải pháp mang tính cụ thể, có lộ trình thực hiện rõ ràng, phù hợp với nguồn lực và điều kiện thực tế của quận.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý

Kết quả luận văn có thể ứng dụng trực tiếp trong xây dựng kế hoạch thi đua khen thưởng hằng năm của UBND quận Hoàn Kiếm. Các phường có thể tham khảo khung đánh giá tiêu chí khen thưởng được đề xuất. Sở Nội vụ Hà Nội có thể tích hợp các khuyến nghị vào chương trình cải cách hành chính trong lĩnh vực thi đua khen thưởng toàn thành phố, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng trên địa bàn quận hoàn kiếm thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về thi đua, khen thưởng và Quản lý Nhà nước về thi đua, khen thưởng. Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về thi đua, khen thưởng trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. 10 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA KHEN THƢỞNG 1.

Khái niệm thi đua, khen thưởng * Thi đua: C.Ănghen là người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung thi đua. Mác đã đưa ra quan niệm về thi đua: thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và nâng cao theo lối đặc biệt tăng thêm nghị lực cho riêng trong người. Lênin lại cho rằng thi đua xã hội chủ nghĩa là một phong trào tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi áp bức bóc lột.

Lênin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần phải chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác thi đua và khen thưởng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua tồn tại khách quan trong xã hội, Người đã dạy: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua.

Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy” [10,tr. Thi đua, khen thưởng là thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày và trong các văn bản của Đảng và Nhà nước.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Thi đua là việc cùng nhau đưa hết khả năng ra làm 11 nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt được thành tích tốt nhất trong một hoạt động nào đó”. Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 (được bổ sung các năm 2005, 2009 và 2013) định nghĩa “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [27]. Như vậy, có thể hiểu thi đua trước hết phải là một hoạt động có tổ chức, không phải là hoạt động tự phát. Thi đua là một hiện tượng khách quan, là quy luật phát triển tất yếu trong quá trình phân công và hợp tác trong lao động của con người, có phân công và hợp tác trong lao động thì có nảy sinh ra thi đua.

Thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra làm việc, thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất, công tác hoặc học tập. Thi đua là sự "đọ sức" trong lao động và sáng tạo, mang đặc tính của con người trong cộng đồng xã hội, được sinh ra bởi sự hợp tác lao động và bởi mối quan hệ con người với con người trong lao động sản xuất. Thi đua yêu nước làm cho người người đoàn kết, gắn bó và thân tình, cởi mở với nhau hơn, bảo đảm lợi ích cho mình, cho tập thể và cho xã hội. Thi đua cũng khác với sự tranh đua: bản chất của thi đua đòi hỏi mọi người đều phải ra sức thi đua, nêu cao tinh thần yêu nước để làm tốt hơn các công việc yêu nước, không loại trừ một ai.

Thi đua là quan hệ xã hội, là quan hệ thi tài, trong đó mọi người lao động có thể biểu lộ nghị lực, những khả năng sáng tạo của mình, thể hiện sự vượt trội của bản thân so với những người khác và qua đó có được sự thừa nhận, tôn trọng của người khác, của cộng đồng. Bản chất của thi đua không phải mang tính phong trào hình thức, “có phát mà không có động”. Mục đích thi đua là nhằm tạo động lực, động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu 12 nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hướng tới thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là giáo dục và bồi dưỡng tư tưởng mới, đạo đức mới, nhằm rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động, làm cho con người phát triển hoàn thiện hơn. Thi đua yêu nước chính là biện pháp xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động [17, tr.

Nội dung thi đua được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc, những quy định cụ thể và khi khen thưởng dựa trên kết quả thi đua phải căn cứ vào các tiêu chuẩn cụ thể đã được đề ra từ trước. Đó cũng là những điểm khác biệt giữa thi đua có tổ chức và thi đua tự phát. Bên cạnh đó, thi đua phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dựa trên sự nhiệt tình tham gia của những người thi đua. Công tác thi đua là quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, của cán bộ, công chức, cơ quan làm công tác thi đua khen thưởng; để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công lao và thành tích xuất sắc của các cá nhân và tập thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

* Khen thưởng: Cũng như “thi đua”, “khen thưởng” cũng là hoạt động cũng tồn tại khá lâu và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Dưới các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, các hình thức khen thưởng cũng tồn tại dưới các hình thức, giá trị khác nhau tuỳ thuộc vào bản chất của nhà nước ở trong giai đoạn lịch sử. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Khen” là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó, một tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng. “Thưởng” là tặng cho bằng hiện vật hoặc tiền.

Như vậy, khen thưởng là việc ghi nhận công lao, thành tích của cá nhân hay tổ chức của người, cơ quan có thẩm quyền về những thành tích mà họ đạt được. 13 Trong Khoản 2, Điều 3 của Luật Thi đua, Khen thuởng năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2005 đã chỉ rõ: Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, khen thưởng là để nhằm ghi nhận, tôn vinh, biểu dương thành tích và nhân điển hình tiên tiến về những tập thể và cá nhân trong lao động sản xuất, chiến đấu, học tập và công tác. Khen thưởng góp phần giáo dục, động viên thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước và tạo động lực lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia vào phong trào hành động cách mạng, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng.

Qua khen thưởng sẽ khơi dậy óc tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực, nhân lên cái chân, thiện, mỹ; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, đẩy lùi cái ác và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Việc thưởng, phạt từ xưa đã là một công cụ hữu hiệu được các nhà quản lý, trong đó có các nhà quản lý nhà nước, sử dụng để tạo nên sự tuân thủ, tạo động lực làm việc, khuyến khích mọi người tích cực, hăng hái lập thành tích trong lao động, sản xuất. Việc khen thưởng rất đa dạng, được thực hiện theo nhiều nội dung và hình thức khác nhau, ví dụ khen thưởng người có công trong đánh giặc, người có công trong việc thi cử, người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người hiến kế giúp nhà vua trị nước yên dân. Đối tượng khen thưởng rất rộng rãi, từ người già đến trẻ em, nam giới đến phụ nữ, không phân biệt dân tộc đều được khen thưởng [17, tr.

Khen thưởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần, vừa khích lệ bằng vật chất và có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó các hình thức chủ yếu bao gồm [17,tr.41]: 14 - Thừa nhận về mặt xã hội (tôn vinh xã hội qua việc công nhận các danh hiệu, giấy khen, bằng khen, huân chương,…) - Khuyến khích về vật chất, tài chính (tiền thưởng, tặng thưởng, tăng lương trước thời hạn…) - Thỏa mãn nhu cầu tâm lý (sự thừa nhận, sự tôn trọng trong tập thể). Ở Việt Nam, trong hoạt động của nhà nước, cả khen thưởng bằng vật chất và khen thưởng tinh thần đều được ghi nhận nhưng phổ biến nhất vẫn là khen thưởng tinh thần thông qua việc suy tôn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người được khen thưởng thường được thừa nhận bằng các danh hiệu như Huân chương, huy chương, giấy khen, bằng khen, cờ thi đua,. Việc khen thưởng phải được thực hiện dựa trên các nguyên tắc khen thưởng nhất định.

Có thể chỉ ra các nguyên tắc khen thưởng chủ yếu sau đây [17, tr.48]: - Khen thưởng phải gắn với phong trào thi đua và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. - Khen thưởng phải bảo đảm chính xác, công bằng, công khai và kịp thời. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng: “Trong một nước thưởng, phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [20, tr. - Khen thưởng phải từ đơn vị cơ sở, cá nhân tiêu biểu trên mọi lĩnh vực.

- Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng. - Đối tượng khen thưởng phải cân đối, hài hòa. - Khen về tinh thần phải đi đôi với thưởng về vật chất. Công tác khen thưởng là quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, của các cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan làm công tác thi đua khen thưởng; để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công 15 lao và thành tích xuất sắc của các cá nhân và tập thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ