Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TRONG LĨNH VỰC KHAI SINH, KHAI TỬ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ tịch và các sự kiện về hộ tịch 1. Khái niệm và đặc điểm của hộ tịch Hộ tịch là một khái niệm đặc thù là một từ ghép gốc Hán, các nội dung về hộ tịch được nhà nước Việt Nam quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đều nêu các nội dung mà văn bản điều chỉnh liên quan tới hộ tịch cụ thể như sau: Thứ nhất, Nghị định số 764-TTg ngày 08 tháng 5 năm 1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành bản Điều lệ đăng ký hộ tịch, những nội dung của hộ tịch được quy định tại Điều 1, mục 1 về điều khoản chung đã nêu các sự kiện về hộ tịch "Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy" [17].
Tại Nghị định này chưa nêu được cụ thể về khái niệm liên quan tới hộ tịch mà chủ yếu chỉ liệt kê ra các sự kiện về hộ tịch bao gồm các nội dung liên quan tới việc sinh, tử, kết hôn. Thứ hai, năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 4-CP ngày 16 tháng 01 năm 1961 về ban hành bản điều lệ đăng ký hộ tịch nhằm thay thế Nghị định số 764-TTg ngày 08 tháng 5 năm 1956 của Thủ tướng Chính phủ, tại Nghị định này cũng quy định "Đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay 8 đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh. Mục đích là để chứng nhận lý lịch, quan hệ gia đình, xác định nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người"[10]. Tại Nghị định này có thể thấy các nhà làm luật đã nhận thức được đầy đủ hơn đối với việc đăng ký và quản lý hộ tịch, bên cạnh đó, còn đưa ra được một số nội dung liên quan tới vấn đề về hộ tịch nhằm xác định các vấn đề về thông tin nhân thân của cá nhân con người từ lúc sinh ra cho tới khi chết đi.
Thứ ba, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Hai nghị định này của Chính phủ đã nêu được khá đầy đủ về khái niệm hộ tịch, cụ thể tại hai nghị định này đều được quy định tại Điều 1 của Nghị định "Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết". Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật đã đưa ra được khái niệm cơ bản, bao hàm được các nội dung liên quan tới các sự kiện hộ tịch đó là "xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra cho tới khi chết đi". Tuy nhiên, khái niệm này cũng chỉ mang tính ước định.
Nếu nhìn vào tổng thể thì khái niệm này được định nghĩa cho thuật ngữ "sự kiện hộ tịch" thì chính xác hơn là khái niệm cho thuật ngữ "hộ tịch".[11] Thứ tư, qua thời gian thực hiện lần lượt các nghị định về hộ tịch, Nhà nước ta đã xác định được tầm quan trọng của đăng ký và quản lý hộ tịch từ đó kế thừa được nhiều nội dung quan trọng liên quan tới việc thực hiện hộ tịch và qua góp ý của các nhà nghiên cứu Luật và được sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân và đến năm 2014, Luật Hộ tịch được ban hành trên cơ sở kế thừa các nội dung đó. Luật Hộ tịch đã quy định tại khoản 1, Điều 2 "Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết" [7,tr. Điều 3 Luật Hộ 9 tịch năm 2014 [7,tr.7,8] đưa ra các nội dung về đăng ký hộ tịch cụ thể như sau: "Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch bao gồm: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử". "Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự".
"Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài". "Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật". Từ những khái niệm về Hộ tịch được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước theo từng giai đoạn lịch sử lập pháp về hộ tịch thì ta có thể đưa ra một khái niệm cụ thể sau: Hộ tịch là những sự kiện pháp lý về nhân thân của mỗi cá nhân con người được pháp luật quy định cụ thể, nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân mỗi con người và để phân biệt được chi tiết thông tin của từng cá nhân con người đó ngay từ lúc sinh ra cho tới khi mất đi. Từ những khái niệm về hộ tịch được quy định tại Nghị định số 764-TTg ngày 08 tháng 5 năm 1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành bản Điều lệ 10 đăng ký hộ tịch cho tới khái niệm của Luật Hộ tịch năm 2014 thì ta có thể thấy hộ tịch có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, Hộ tịch được xuất phát từ yếu tố con người được phân biệt rõ ràng với từng con người khác nhau dựa vào các dấu hiệu như: họ, tên; giới tính; thời điểm sinh; thời điểm chết; cha, mẹ đẻ.
và các dấu hiệu này là những thông tin về nhân thân của cá nhân mỗi con người từ lúc sinh ra cho tới lúc chết đi. Thứ hai, hộ tịch là thông tin cá nhân của mỗi con người và những thông tin nhân thân đó luôn đi cùng con người đó từ lúc sinh ra cho tới khi chết đi. Từ đó cho thấy, hộ tịch có một vai trò đặc biệt quan trọng tới mỗi cá nhân con người, do đó việc thực hiện đăng ký hộ tịch phải được thực hiện thật chuẩn xác, cung cấp thông tin một cách đầy đủ và cẩn trọng từ hai phía, phía cá nhân người đi đăng ký hộ tịch và phía người được giao thực hiện công tác đăng ký hộ tịch. Thứ ba, hộ tịch là một sản phẩm đặc biệt của con người được xuất hiện từ khi có nhà nước và được gọi bằng các hình thức tên gọi khác nhau, nhưng chung quy nó vẫn là xác định tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho tới khi chết đi.
Thứ tư, hộ tịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý về dân cư của Nhà nước đặc biệt là trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước hoặc của một địa phương. Các sự kiện về hộ tịch Theo điều 3 Luật hộ tịch năm 2014 thì các sự kiện hộ tịch bao gồm những sự kiện sau: Thứ nhất, đối với nội dung xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch, bao gồm các sự kiện sau: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử. 11 Thứ hai, đối với nội dung ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm những nội dung sau: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Thứ ba, các nội dung ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Thứ tư, Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Như vậy đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về hộ tịch, đăng ký hộ tịch Quản lý hiểu theo cách đơn giản và theo ngữ nghĩa của từ thì quản lý thường được mọi người hiểu là phụ trách hay là chủ trì một lĩnh vực, công việc gì đó. Tuy nhiên khái niệm quản lý được hiểu một cách rất đa dạng, nó được định nghĩa khác nhau thông qua các hoạt động khác nhau.
Như vậy có thể hiểu "quản lý" là hoạt động có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh 12 thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng đặc điểm của "quản lý" là một trong những hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý.