Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng ở tỉnh Bình Định Chương 3. Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch cộng đồng ở tỉnh Bình Định e 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.
Du lịch cộng đồng và vai trò phát triển du lịch cộng đồng 1. Khái niệm, đặc điểm của du lịch cộng đồng 1. Cộng đồng Thuật ngữ “cộng đồng” xuất hiện rất sớm trong đời sống của xã hội loại người và đến năm 1950, thuật ngữ “cộng đồng” được Liên Hiệp Quốc công nhận và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trình phát triển quốc gia và viện trợ quy mô lớn. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này: Theo nhà xã hội học người Đức Ferdinand Toennies (1887), “Cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn so với hiệp hội vì cộng đồng được đặc trưng bởi sự đồng thuận về ý chí của các thành viên của cộng đồng” [62].
Nhà tâm lý học về cộng đồng D. Chavis sense of community cho rằng ý thức cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức bền cố kết nội tại của cộng đồng. Bốn yếu tố sau đây chính là cơ sở của ý thức cộng đồng: (1) tư cách thành viên; (2) ảnh hưởng; (3) sự hội nhập và sự đáp ứng các yêu cầu; (4) sự gắn bó, chia sẻ tình cảm [59]. Các nhà khoa học chính trị hiện đại lại quan tâm đến cộng đồng như một hình thức tổ chức trong quá trình chính trị, bao gồm từ các nhóm lợi ích đến các chính đảng, các dạng công xã cho đến nhà nước, dân tộc.
Từ nửa sau thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu chính trị học, đặc biệt là văn hóa chính trị, xuất hiện thêm khái niệm về loại hình “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community). Đây chính là cơ sở để Benedict Anderson phát triển thành lý thuyết mới về cộng đồng nói chung và quốc gia, dân tộc nói riêng, trong đó e 10 nhấn mạnh vai trò chia sẻ giữa các thành viên của cộng đồng về cách mà họ hình dung về cộng đồng nói chung và vai trò của họ với tính cách là một bộ phận hợp thành của cộng đồng ấy [57]. Còn Keith và Ary (1998) cho rằng: “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [22].
Tiếp cận từ góc độ kinh tế học, “cộng đồng” được xem như một loại “vốn xã hội”. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là các luận điểm của Robert D. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2000), cộng đồng được định nghĩa là “Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [28] Theo ThS.
Bùi Thị Hải Yến (2012): “Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [54]. Từ những quan điểm trên, cho thấy: Cộng đồng là một nhóm người sinh sống trên cùng một khu vực địa lý có những đặc điểm chung về ngôn ngữ, kinh tế, truyền thống văn hóa. Họ gắn bó với nhau trên cơ sở đồng thuận về ý chí, có ý thức công cộng và lợi ích. Du lịch cộng đồng DLCĐ bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, có nhiều cách nhìn nhận và hiểu biết khác nhau về DLCĐ.
Tổ chức du lịch Thái Lan - Responsible Ecological Social tour - một tổ chức du lịch chịu trách nhiệm về DL sinh thái - xã hội đã đưa ra định nghĩa: “DLCĐ là phương thức tổ chức DL đề cao sự bền vững về môi trường và văn hóa xã hội. DLCĐ do cộng đồng sở hữu quản lý tài nguyên các hoạt động DL. Vì sự phát triển của cộng đồng và cho phép du khách nâng cao nhận thức cũng như học hỏi từ cộng đồng về những giá trị văn hóa, cuộc sống đời thường của họ” [61]. Theo hai nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2000) thì: “DLCĐ là một loại hình DL.
Trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ DL sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [58]. Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới WNF (2004) cũng đưa ra một khái niệm về DLCĐ: “DLCĐ là loại hình DL mà ở đó CĐĐP có sự khảo sát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển, quản lý hoạt động DL, phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động DL cho cộng đồng” [56]. Theo Viện nghiên cứu phát triển các ngành nghề nông thôn Việt Nam và Quỹ phát triển Châu Á (2012): “DLCĐ là một loại hình DL do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hoá…).
DLCĐ dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách DL để tìm hiểu thêm về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau. DLCĐ thường liên kết với người dân thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng thức cuộc sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định”[52]. e 12 Trong Chương trình Phát triển năng lực DL có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU) thì “DLCĐ mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các CĐĐP tham gia trực tiếp vào các hoạt động DL và thu được các lợi ích kinh tế - xã hội từ các hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương” [7]. Dựa trên Tiêu chuẩn DLCĐ ASEAN do các nước ASEAN xây dựng, Bộ Văn hóa Thể thao và DL (2018) đã nghiên cứu các tiêu chuẩn này và áp dụng có điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế của DLCĐ tại Việt Nam, từ đó đưa ra định nghĩa DLCĐ: “DLCĐ là hoạt động DL mà cộng đồng làm chủ, điều hành và quản lý hoặc điều phối ở cấp độ cộng đồng để góp phần cải thiện đời sống của cộng đồng thông qua việc hỗ trợ sinh kế bền vững và bảo vệ truyền thống văn hóa - xã hội quý giá, các nguồn tài nguyên tự nhiên và di sản văn hóa” [3].
Tại Điều 3 Luật DL Việt Nam: “DLCĐ là loại hình DL được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi” [24]. Từ những quan điểm, định nghĩa về DLCĐ nêu trên cho thấy: DLCĐ là loại hình DL do cộng đồng dân cư làm chủ tiến hành khai thác, quản lý và hưởng lợi từ những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Đặc điểm của du lịch cộng đồng DLCĐ đang là loại hình DL mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng dân cư và mang tính bền vững. DLCĐ giúp văn hoá, thiên nhiên phát triển bền vững, đảm bảo sự cân bằng với các chỉ tiêu kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường, trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá được khai thác một cách hợp lý.
DLCĐ chính là cách tốt nhất vừa làm DL vừa giữ gìn bản sắc văn hoá, sử dụng dịch vụ tại chỗ, phát triển giá trị văn hoá bản địa. DLCĐ e 13 thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển, bảo vệ tài nguyên môi trường. Thu nhập từ DLCĐ được giữ lại cho cộng đồng để bảo vệ môi trường và tái đầu tư cho DL của địa phương. DLCĐ là loại hình DL mà cộng đồng dân cư là những người được tham gia ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển DL: Từ khâu nghiên cứu, lập dự án quy hoạch phát triển DL, tham gia với vai trò quản lý và quyết định các vấn đề phát triển DL, bảo tồn, triển khai các hoạt động kinh doanh, cung cấp các sản phẩm DL phục vụ du khách, vận chuyển khách DL và kinh doanh các dịch vụ, hàng hóa, vui chơi, giải trí, hướng dẫn.
Họ giữ vai trò chủ đạo phát triển và duy trì các dịch vụ. Việc phát triển các sản phẩm DLCĐ đã đáp ứng nhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hoá dân tộc đặc sắc. Đồng thời, DLCĐ đã mang lại hiệu quả thiết thực, không chỉ phát huy được thế mạnh văn hoá bản địa, mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhiều người dân địa phương. Phát triển DL dựa vào cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với bảo vệ, bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá bản địa, nâng cao được ý thức trách nhiệm đối với môi trường DL và các hiện tượng gây ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Các loại hình du lịch cộng đồng Theo Tài liệu hướng dẫn phát triển DLCĐ của Viện nghiên cứu phát triển các ngành nghề nông thôn Việt Nam (2012) thì các loại hình du lịch sau đây phù hợp với DLCĐ bởi chúng được sở hữu và quản lý bởi cộng đồng: Du lịch sinh thái, Du lịch nông nghiệp, Du lịch bản địa hay còn gọi là Du lịch dân tộc, và Du lịch Làng quê [52]. Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên còn nguyên sơ, ít bị tác động của con người (đặc biệt e 14 là trong các khu vực cần được bảo vệ và môi trường xung quanh) và kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa - xã hội của địa phương. Du lịch văn hóa: Du lịch văn hóa là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học… trở thành yếu tố thu hút khách chủ yếu của CĐĐP. Ví dụ về du lịch dựa vào văn hóa bao gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng dân tộc thiểu số.