Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng từ thực tiễn ở huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng từ thực tiễn ở huyện quế sơn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng

Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật cho người có công với cách mạng là một lĩnh vực quan trọng trong chính sách xã hội của Việt Nam. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người có công mà còn thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Khái niệm người có công được hiểu là những cá nhân đã có những đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, được nhà nước công nhận. Đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này bao gồm việc xây dựng và thực hiện các chính sách ưu đãi, đảm bảo quyền lợi cho người có công. Vai trò của quản lý nhà nước là rất lớn, không chỉ trong việc thực hiện pháp luật mà còn trong việc nâng cao đời sống cho người có công và gia đình họ.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật cho người có công với cách mạng bao gồm các hoạt động của nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi và thực hiện các chính sách ưu đãi. Vai trò của quản lý nhà nước là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, giúp người có công tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ cần thiết. Điều này không chỉ thể hiện sự tri ân của xã hội mà còn góp phần ổn định chính trị và xã hội. Chính sách ưu đãi cho người có công cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, nhằm đảm bảo rằng những người đã cống hiến cho đất nước được sống xứng đáng với những gì họ đã hy sinh.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng tại huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam

Tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật cho người có công với cách mạng đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bao gồm sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp luật, cũng như sự nhận thức chưa đầy đủ của một số cán bộ về chính sách ưu đãi cho người có công. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp người có công vẫn chưa được hưởng đầy đủ quyền lợi, do quy trình xác nhận và thủ tục hành chính còn phức tạp. Đánh giá tổng thể cho thấy, mặc dù có những nỗ lực trong việc thực hiện chính sách, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật cho người có công tại huyện Quế Sơn bao gồm: sự thiếu hụt thông tin về chính sách, quy trình xác nhận phức tạp, và sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp luật. Những vấn đề này đã dẫn đến tình trạng nhiều người có công không được hưởng đầy đủ quyền lợi. Cần có sự cải cách trong quy trình và thủ tục để đảm bảo rằng mọi người có công đều được công nhận và hưởng các chính sách ưu đãi một cách công bằng.

III. Giải pháp và kiến nghị để tăng cường quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng tại huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật cho người có công tại huyện Quế Sơn, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách ưu đãi cho người có công. Thứ hai, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về quyền lợi của người có công. Cuối cùng, cần thiết lập một hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách, nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục những bất cập trong quá trình thực hiện.

3.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách

Giải pháp hoàn thiện chính sách ưu đãi cho người có công cần tập trung vào việc rà soát và sửa đổi các văn bản pháp luật hiện hành. Cần đảm bảo rằng các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn và quy trình xác nhận người có công là rõ ràng và dễ thực hiện. Đồng thời, cần có các biện pháp cụ thể để ngăn chặn tình trạng gian lận trong việc xác nhận người có công, nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thực sự có công với cách mạng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng từ thực tiễn ở huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 1. Các khái niệm chủ yếu có liên quan - Khái niệm về người có công với cách mạng (NCCVCM): NCCVCM theo nghĩa rộng [21], đó là tập hợp những người (mà không phân biệt giới tính nam nữ, dân tộc, tuổi tác, tín ngưỡng, tôn giáo) đã tự nguyện cống hiến đóng góp tài năng, trí tuệ, sức lực… cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Họ là những người có các thành tích cống hiến hoặc đóng góp nhiệm vụ xuất sắc vì lợi ích của đất nước, của dân tộc và đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo luật định.

Với nghĩa này cho thấy việc xác định dấu hiệu các tiêu chí chủ yếu của NCCVCM, đó phải là người có sự cống hiến hy sinh/ đóng góp xuất sắc vì lợi ích của quốc gia dân tộc. Sự cống hiến thiêng liêng của họ được xã hội tôn vinh, chịu ơn và được Nhà nước công nhận cả trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc hoặc trong sự nghiệp xây dựng kiến thiết quốc gia. Đúng vậy, xuất phát điểm từ đặc điểm và lịch sử dân tộc Việt Nam, nên trong suốt quá trình tranh đấu giữ nước và dựng nước, đối tượng NCCVCM ở nước ta có đặc điểm là một bộ phận lớn của những lớp người đã quên mình để hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng quốc gia dân tộc, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Họ chính là lực lượng NCCVCM, với đất nước vì lợi ích của quốc gia dân tộc và quốc thái dân an, mà không hề yêu cầu đòi hỏi phải bù đắp, được nhân dân và Nhà nước ta ghi nhận và biết ơn sâu sắc (mà không phân biệt giới tính, tộc người, tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng…).

Thuật ngữ NCCVCM (ở nghĩa hẹp) [21] dùng để chỉ lực lượng những người có các cống hiến/ đóng góp xuất sắc cả thời kỳ trước cách mạng tháng Tám 1945, trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận. Với nghĩa hẹp này, NCCVCM gồm có: người tham 8 gia cách mạng hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hay một phần thân thể mình hoặc họ có thành tích cống hiến/ đóng góp vì cách mạng. Về cơ bản, khái niệm về NCCVCM được dựa trên cơ sở của tiêu chí xác định NCCVCM như: mức độ cống hiến, đóng góp, hy sinh… ở phạm vi xác định về không gian, thời gian, quốc tịch nhằm phân biệt rõ giữa người có công so với đối tượng khác. Căn cứ vào công sức cống hiến đóng góp và hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của quốc gia; cũng như áp dụng chế độ ưu đãi phù hợp với các nhóm đối tượng, Nhà nước ta đã quy định tương đối cụ thể về NCCVCM được thể hiện trong Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM qua các giai đoạn ban hành.

Với cơ sở trên, khái niệm NCCVCM theo Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM là những người đã có thành tích trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Tại Điều 38 của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng đã khái quát về khái niệm: Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước khen tặng thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; (2) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến; (3) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huy chương Kháng chiến. Như vậy, về khái quát có thể xác định cụ thể theo nhóm đối tượng NCCVCM được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận, gồm có: + Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945. + Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8- 1945.

+ Liệt sĩ; thương binh. + Anh hùng Lao động trong kháng chiến, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. + Đối tượng thụ hưởng chính sách như thương binh là những người bị thương và 9 bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, tuy không phải là quân nhân, công an nhân dân, nhưng họ thuộc một trong các trường hợp theo quy định như thương binh và được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về người thụ hưởng chính sách như thương binh. + Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc các bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và khi xuất ngũ được đơn vị, cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh".

+ Đối tượng hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. + Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, nhưng họ không khai báo có hại cho kháng chiến cách mạng, không làm tay sai cho thù địch. + Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được tặng Huy chương kháng chiến, Huân chương kháng chiến. + Người có công giúp đỡ cách mạng, gồm có: Người được tặng Bằng “Có công với nước” hoặc Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”; người trong gia đình được tặng Bằng “Có công với nước” hoặc Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”trước cách mạng tháng 8 năm 1945; người được tặng Huy chương kháng chiến hay Huân chương kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huy chương kháng chiến hay Huân chương kháng chiến.

- Pháp luật là thuật ngữ dùng để chỉ hệ thống các quy tắc sử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước có thẩm quyền ban hành/ thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong đời sống xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội [19, tr. - Thực hiện pháp luật được hiểu là hành vi xử sự hợp pháp của con người thể hiện dưới dạng hành động/ không hành động, chúng được tiến hành phù hợp theo yêu cầu của những quy phạm pháp luật. Thực hiện pháp luật vốn dĩ là quá trình hoạt động có chủ đích của các chủ thể pháp luật nhằm làm cho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chúng tạo ra cơ sở pháp lý đối với các hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật. 10 Như vậy, thực hiện pháp luật về NCCVCM có thể hiểu là quá trình tổ chức, điều hành hoạt động có mục đích của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cùng với đội ngũ nhân sự của mình nhằm làm cho pháp luật về NCCVCM đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi của các chủ thể pháp luật trong ứng xử hợp pháp với NCCVCM, để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện tốt pháp luật về NCCVCM, bảo đảm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tính nhân văn XHCN; góp phần cho NCCVCM cùng gia đình họ phục hồi cuộc sống ổn định và phát triển theo hướng bền vững.

- Theo đó, có thể xác định: Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM được hiểu là hoạt động thực thi quyển lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một môi trường ổn định, thuận lợi để pháp luật về NCCVCM được thực thi trong thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi ứng xử hợp pháp của các chủ thể pháp luật đối với NCCVCM, để nâng cao tính tích cực, chủ động thực hiện tốt pháp luật về NCCVCM, bảo đảm phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tính nhân văn XHCN; góp phần cho NCCVCM cùng gia đình họ phục hồi cuộc sống ổn định và phát triển theo hướng bền vững. Đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng * Quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM có một số đặc điểm chủ yếu sau: - Một là, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM mang tính quyền lực đặc biệt, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng” có tính tổ chức cao, để tác động lên các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về NCCVCM trên thực tế. - Hai là, quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật về NCCVCM vừa mang tính chính trị, kinh tế – xã hội và vừa mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc của Nhà nước ta đối với xã hội về lĩnh vực này. Vì rằng, NCCVCM là bộ phận những người có lòng yêu nước nồng nàn, gan dạ, bền bỉ, đã có nhiều cống hiến đặc biệt quan trọng, sẵn sàng cống hiến hết tài sản, 11 của cải của mình và dám xã thân hy sinh vì sự nghiệp kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc và kiến quốc của dân tộc ta, vì dân.

Phần lớn NCCVCM hiện nay thuộc lớp người lớn tuổi, đều lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh và hoạt động cách mạng). Ngay cả sau khi nước nhà độc lập thống nhất và lặp lại hòa bình, dù là di chứng của thương tích và bệnh tật mang trong mình, những NCCVCM vẫn không ngừng phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp của bộ đội cụ Hồ và luôn tự lo tìm công việc phù hợp sức lao động mình để tiếp tục nỗ lực phấn đấu; luôn giáo dục truyền thụ những giá trị truyền thống cách mạng cho con em mình, gương mẫu trong lối sống, luôn trung thành sắt son với chế độ XHCN và thể hiện tinh thần đấu tranh trước các tiêu cực xã hội. NCCVCM là lớp người có tín nhiệm/ uy tín rất cao đối với Đảng, Nhà nước ta và cộng đồng cư dân, là bộ phận rường cột, là chỗ dựa quan trọng về tiếng nói trong nhân dân; cũng như động viên nhân dân tham gia hưởng ứng tích cực những chủ trương, chính sách của Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước ta. Họ chính là tấm gương sáng để gia đình và xã hội luôn noi theo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Nhà Nước Về Thực Hiện Pháp Luật Cho Người Có Công Ở Huyện Quế Sơn, Quảng Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý nhà nước trong việc thực thi pháp luật dành cho người có công tại địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tài liệu này phân tích thực trạng, chỉ ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo quyền lợi của người có công. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp luật và chính sách xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện pháp luật về khiếu nại từ thực tiễn huyện chương mỹ thành phố hà nội, nghiên cứu về thực tiễn khiếu nại tại địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch tại thị xã sơn tây thành phố hà nội cung cấp góc nhìn chi tiết về quy trình đăng ký hộ tịch. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công tác kiểm tra pháp luật. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh liên quan đến quản lý nhà nước và thực thi pháp luật.