Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Khoáng sản a. Khái niệm Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2019, trang 638) định nghĩa “Khoáng sản là khoáng vật và đá trong vỏ trái đất, có thể khai thác để trở thành các nguồn lợi kinh tế”.
Theo Tống Duy Thanh (2008): “Khoáng sản là những dạng vật chất quen thuộc và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người như than đá, sắt, vàng, nước khoáng thiên nhiên. Với giá trị to lớn của khoáng sản, trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản dẫn tới phát sinh các quan hệ xã hội đòi hỏi Nhà nƣớc phải quản lý bằng pháp luật. Theo Điều 2 Luật Khoáng sản 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018): “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Nhƣ vậy, có thể hiểu tài nguyên khoáng sản là thành phần tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và đem lại lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân.
Phân loại khoáng sản Tài nguyên khoáng sản đƣợc phân loại theo nhiều cách: - Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt Trái Đất). - Theo trạng thái vật lý: Khoáng sản rắn (quặng kim loại, phi kim, đá màu, đá quý); khoáng sản lỏng (dầu mỏ, nƣớc khoáng.); khoáng sản khí (khí đốt, khí trơ). - Theo tính chất công dụng và thành phần hóa học: Khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản năng lƣợng và khoáng sản nƣớc. 11 + Khoáng sản kim loại (hay quặng) qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại hoặc hợp chất của chúng gồm: khoáng sản kim loại đen (sắt, mangan, titan, crom.) dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp luyện kim đen để sản xuất ra gang, thép.; khoáng sản kim loại màu (đồng, chì, kẽm,.) dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp luyện kim màu để sản xuất ra đồng, chì, kẽm.
và kim loại hiếm hoặc rất hiếm. + Khoáng sản phi kim là những quặng đƣợc sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại nhƣ muối mỏ, thạch anh, apatit, đá vôi, cát, sỏi. dùng để sản xuất phân bón, đồ gốm sứ và vật liệu xây dựng. + Khoáng sản năng lƣợng gồm các đá có nguồn gốc sinh vật nhƣ than đá, than bùn, dầu mỏ, khí đốt.
dùng làm nhiên liệu cho ngành công nghiệp năng lƣợng (làm chất đốt,.) hoặc nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa chất (hóa phẩm, dƣợc phẩm, sợi nhân tạo, vật liệu khuôn đúc. + Khoáng sản nƣớc gồm các loại nƣớc nhƣ nƣớc ngọt đƣợc dùng cho sinh hoạt, nƣớc khoáng cho công nghiệp và bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt. Hoạt động khai thác khoáng sản a. Khái niệm Ở Việt Nam, khái niệm khai thác khoáng sản đã đƣợc luật hóa tại Điều 2, Luật khoáng sản năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), theo đó: “Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đảo, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan”.
Đặc điểm hoạt động khai thác khoáng sản - Hoạt động khai thác khoáng sản là hoạt động có chủ thể và đối tƣợng. Khai thác khoáng sản là hoạt động đƣợc tiến hành sau khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác và đƣợc tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trƣờng). Nhƣ vậy hoạt động khai thác khoáng sản có chủ thể khai thác và đối tƣợng cụ thể. + Chủ thể khai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện tƣơng đối chặt chẽ theo Luật Khoáng sản 2010 và Nghị định hƣớng dẫn thi hành quy định.
Theo Điều 51 Luật Khoáng sản 2010 quy định điều kiện cần để có thể trở thành chủ thể khai thác khoáng sản gồm hai yêu cầu sau: 12 Là tổ chức (doanh nghiệp đƣợc thành lập theo Luật doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đƣợc thành lập theo Luật hợp tác xã) hoặc hộ kinh doanh. Có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản, trong đó “hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản chỉ được khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khai thác tận thu khoáng sản”. + Đối tƣợng khai thác: Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản nên hoạt động này có đối tƣợng khai thác là khoáng sản. - Hoạt động khai thác khoáng sản là hoạt động có tính đặc thù.
Thứ nhất, khai thác khoáng sản có thể đƣợc thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau: + Theo cách thức khai thác Có hai hình thức khai thác là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò. Khai thác lộ thiên là hình thức khai thác mỏ mà theo đó cần phải bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản cần khai thác. Đa số hình thức khai thác lộ thiên đều dùng các thiết bị máy móc lớn nhƣ máy xúc đất để loại bỏ lớp đất đá bề mặt, kế tiếp là dùng máy xúc gầu kéo cáp hoặc máy xúc nhiều gầu kiểu roto để lấy khoáng sản. Có nhiều dạng khai thác mỏ lộ thiên, theo đó hình thức khai thác dải và khai thác mỏ mở là hai hình thức phổ biến nhất.
Khai thác hầm lò là hình thức khai thác theo đó không có việc bóc lớp phủ mà ngƣời ta đào các hầm bên dƣới mặt đất để lấy quặng. Các mỏ quặng này đƣợc đầu tƣ đổi mới công nghệ, thiết bị đồng thời là các kỹ thuật khai thác mỏ, đặc biệt là cơ giới hóa khai thác hầm lò đã góp phần tăng sản lƣợng nguồn tài nguyên tự nhiên của mỏ. + Theo quy mô, công nghệ khai thác Theo Khoản 2, Điều 1, Quyết định số 588-CNNg/QLTN ngày 01 tháng 8 năm 1992 của Bộ Công nghiệp nặng, quy định các hình thức và quy mô khai thác khoáng sản nhƣ sau: “Khai thác thủ công cá thể, sử dụng dụng cụ thô sơ, cầm tay là chủ yếu, có thể sử dụng công cụ cơ giới nhỏ cơ động, vận tải bằng sức người hoặc súc vật. Khai thác quy mô nhỏ với tổng khối lượng khoáng sản và đất đá dưới 30.000 t/năm, vốn đầu tư cơ bản không quá 1 triệu đôla Mỹ.
Khai thác quy mô lớn có tổng khối lượng khoáng sản và đất đá, vốn đầu tư cơ bản không phải là khai thác quy mô nhỏ.” Hiện nay, dựa trên quy mô và công nghệ khai thác, các tài liệu thƣờng đƣợc đề cập đến khai thác theo quy mô công nghiệp và khai thác quy mô nhỏ, tận thu. 13 Khai thác theo quy mô công nghiệp là hình thức khai thác với quy mô lớn, thời gian khai thác dài, sử dụng máy móc trong hoạt động khai thác là chủ yếu. Khai thác quy mô nhỏ, tận thu: Hình thức khai thác này đang diễn ra ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. + Theo tính pháp lý: khai thác theo giấy phép và khai thác trái phép.
Thứ hai, khai thác khoáng sản là hoạt động có điều kiện. Điều kiện cấp phép khai thác do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt. Theo Khoản 2 Điều 53 Luật Khoáng sản năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định tổ chức, cá nhân đƣợc cấp Giấy phép khai thác khoáng sản phải có đủ các điều kiện sau đây: “Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 10 của Luật này. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ, phương pháp khai thác tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép bằng văn bản; Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản.” Hộ kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật Khoáng sản 2010 (sửa đổi, bổ sung 2018) đƣợc phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thƣờng, khai thác tận thu khoáng sản khi có đủ điều kiện do Chính phủ quy định tại Điều 36 - Nghị định 158/2016/NĐ-CP hƣớng dẫn Luật khoáng sản.
Hộ kinh doanh đƣợc cấp Giấy phép khai thác khi có đủ những điều kiện sau: “Có báo cáo kinh tế kỹ thuật khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò và phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh, thành phố nơi có khoáng sản. Báo cáo kinh tế kỹ thuật khai thác khoáng sản phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ, phương pháp khai thác phù hợp; Có kế hoạch bảo vệ môi trường kèm theo văn bản phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; Quy mô công suất khai thác không quá 3.000 m3 sản phẩm là khoáng sản nguyên khai/năm.” 14 Nhƣ vậy, điều kiện để các tổ chức, hộ kinh doanh và cá nhân đƣợc khai thác thác khoáng sản là đƣợc các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản. Thứ ba, hoạt động khai thác khoáng sản đem lại lợi ích cho phát triển KT- XH song lại là hoạt động có tác động mạnh đến môi trƣờng tự nhiên và con ngƣời. + Khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trƣờng.
Khai thác khoáng sản đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đạt đƣợc, con ngƣời cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trƣờng. Trong quá trình khai thác khoáng sản, con ngƣời đã làm thay đổi môi trƣờng xung quanh.