ĐẶT VẤN ĐỀ Quảng ninh đƣợc mệnh danh là mỏ vàng đen của Việt Nam, bởi nơi đây có trữ lƣợng than lớn nhất cả nƣớc, ngƣời dân nơi đây sống và làm giầu chủ yếu từ than_ vàng đen. Tổng sản lƣợng than khai thác 2011-2015 ƣớc đạt 195,65 triệu tấn, tiêu thụ 192,3 triệu tấn doanh thu ƣớc đạt 527,878 tỷ đồng. Năm 2015 tổng sản lƣợng than nguyên khai đạt 37,6 triệu tấn, than tiêu thụ đạt trên 35,5 triệu tấn, bốc xúc vận chuyển đất đá đạt 175,5 triệu m3. Doanh thu toàn tập đoàn đạt hơn 106.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 12.
Hoạt động khai thác than có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp CNH - HDH đất nƣớc. Xong việc khai thác than thiếu quy hoạch tổng thể, biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang làm biến động nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó đầu tiên phải kể đến hoạt động khai thác than ảnh hƣởng xấu đến tài nguyên nƣớc. Khai mỏ lộ thiên "chiếm" nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngấm cần thiết cho nông nghiệp và sinh hoạt của ngƣời dân vùng lân cận.
Khai mỏ lộ thiên còn ảnh hƣởng lớn tới việc cung cấp nƣớc ngầm: rút nƣớc từ những túi nƣớc ngầm nông, hạ thấp mực nƣớc ngầm của những vùng lân cận và thay đổi hƣớng chảy trong túi nƣớc ngầm. Khai mỏ ngầm dƣới đất cần nhiều nƣớc để rửa than (Tác động môi trƣờng trong khai thác mỏ. Và trận mƣa lũ lớn nhất trong vòng 40 năm qua, kéo dài từ ngày 25/7/2015 đến 5/8/2015 tại Quảng Ninh gây ngập lụt nghiêm trọng đƣợc nhận định nguyên nhân lớn là do khai thác than (Bùi Minh Tăng. nguyên Giám đốc Trung tâm dự báo khí tƣợng thủy văn trung ƣơng, và ông Đỗ Thanh Bái.
Hội Hóa học Việt Nam [3]) Tại tỉnh Quảng Ninh có Hồ Yên Lập là hồ nƣớc ngọt nhân tạo lớn nhất, với dung lƣợng nƣớc chứa có thể lên đến 130 triệu mét khối. Hồ Yên Lập là một trong những lƣu vực với nguồn nƣớc mặt có giá trị của tỉnh Quảng Ninh trong việc cấp nƣớc sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cho một số địa phƣơng trong tỉnh. Nhƣng chất lƣợng nƣớc của Hồ hiện đang đứng trƣớc những 1 ảnh hƣởng xấu từ một số hoạt động khai thác than trong lƣu vực lòng hồ của một số Công ty than đƣợc cấp phép và một số cá nhân khai thác than trái phép trong khu vực này. Nhận thấy giá trị tiềm năng lâu dài của hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện nâng công suất cho hồ Yên Lập vào năm 2010 nhằm mở rộng phạm vi cung cấp nguồn nƣớc sinh hoạt và sản xuất cho Khu du lịch Tuần Châu, Đảo Cát Bà, Thành phố Hải Phòng và khu công nghiệp Cái Lân.
Bởi vậy, việc đánh giá ảnh hƣởng của các hoạt động khai thác than khu vực thƣợng nguồn của hồ, nhằm đề xuất các giải pháp quản lý và các giải pháp kỹ thuật để ngăn ngừa những tác động tiêu cực đến chất lƣợng nguồn nƣớc và sự bồi lắng lòng hồ là hết sức cần thiết, đảm bảo sự phát triển bền vững của tỉnh trong những năm tới. Vì vậy em hƣớng tới nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng nước mặt của hồ Yên lập, Quảng Ninh”. Mong rằng đề tài đóng góp đƣợc kết quả trong việc thực hiện nâng công suất cho hồ Yên Lập, từ đó suy ra đƣợc phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá là điều cần thiết song phải luôn chú trọng tới các vấn đề môi trƣờng để phát triển bền vững. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về hoạt động khai thác than 1. Tình hình khai thác than trên Thế Giới và Việt Nam a) Tình hình khai thác than trên Thế Giới Môi trƣờng toàn cầu đang phải đối mặt với muôn vàn thách thức từ biến đổi khí hậu. Sự nóng lên của Trái đất, ô nhiễm không khí, nguồn nƣớc, đất đang dần đẩy con ngƣời tới bƣớc đƣờng diệt vong. Nguyên nhân không đâu khác, chính là vì hoạt động sản xuất, vắt kiệt nguồn tài nguyên của chính chúng ta.
Trong đó, điển hình là việc khai thác và sử dụng quá mức than đá - một trong những loại nhiên liệu hóa thạch phổ biến nhất… Theo thống kê, hơn 40% lƣợng điện năng trên thế giới hiện nay đƣợc sản xuất ra là từ than trong các nhà máy nhiệt điện. Sản lƣợng khai thác than trung bình của toàn thế giới là khoảng 5 tỷ tấn/năm. Than tập trung nhiều ở Bắc bán cầu, nhất là các nƣớc Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Bang Nga… Hàng năm có khoảng hơn 4.030 triệu tấn than đƣợc khai thác, con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Châu Á là châu lục khai thác than nhanh nhất trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần.
Trung Quốc là quốc gia khai thác than lớn nhất trên thế giới, năm 2008 khai thác 2782 triệu tấn than, tiếp đó là Mỹ và các nƣớc EU. (Công ty Cổ phần chứng khoán Hà Thành. Sản xuất than theo quốc gia (triệu tấn). Dự Quốc gia 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tỷ lệ trữ (năm) China 1722 1992,3 1992,3 2380 2380 2782 42,5 % 41 USA 41 5187,6 1026,5 1053,6 1040,2 1062,8 18,0% 224 EU 638 628,4 608 595,5 593,4 587,7 5,2% 51 India 638 628,4 428,4 447,3 478,4 521,7 5,8% 114 Australia 351,5 628,4 378,8 385,3 399 401,5 6,6% 190 Russia 276,7 281,7 298,5 309,2 314,2 326,5 4,6% 481 South 237,9 243,4 244,4 244,8 247,7 250,4 4,2% 121 Africa Indonesia 114,3 132,4 146,9 195 217,4 229,5 4,2% 19 Germany 204,9 207,8 202,8 197,2 201, 9 192,4 3,2% 35 Poland 163,8 162,4 159,5 156,1 145,9 143,9 1,8% 52 5187, 100,0 Total 5585,3 5886,7 6195,1 6421,2 6781,2 142 6 % (Nguồn: HASC tổng hợp.
2010) Các nƣớc khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà nằm rải rác trên thế giới, năm nƣớc khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Nhƣng trong đó Trung Quốc, Ấn Độ là những nƣớc khai thác than để lại hậu quả ô nhiễm môi trƣờng lớn nhất. b) Tình hình khai thác than ở Việt Nam Ngành Than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 100 năm, với 69 năm truyền thống vẻ vang, từ cuộc tổng bãi công ngày 12/11/1936 của hơn 3 vạn thợ mỏ đã giành đƣợc thắng lợi rực rỡ, giải phóng vùng mỏ, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại quyền độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong số các mỏ đang hoạt động có 32 mỏ đƣợc thăm dò tỉ mỉ, 14 mỏ đã đƣợc thăm dò sơ bộ, chỉ còn 5 mỏ là ở giai đoạn tìm kiếm tỉ mỉ.
Hiện tại toàn ngành có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất trên dƣới 2 triệu tấn than nguyên khai/ năm, 15 mỏ lộ thiên vừa và công trƣờng lộ thiên sản xuất với 4 công suất 100.000 tấn – dƣới 1 triệu tấn than nguyên khai/ năm , trên 30 mỏ hầm lò đang hoạt động. (Phát triển công nghiệp khai thác than ở Việt Nam. 2013 [5] Nếu nhƣ năm 2002, Tập đoàn than Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới chỉ khai thác đạt khoảng 14,8 triệu tấn thì đến năm 2003 trữ lƣợng khai thác đã lên đến 20 triệu tấn than nguyên khai và tiêu thụ khoảng 18,2 triệu tấn. (Báo điện tử Quảng Ninh.
2007 [6]) Tổng sản lƣợng than nguyên khai đƣợc khai thác giai đoạn 2006 - 2009 là 177 triệu tấn. Sản lƣợng than những năm gần đây đạt 4647 triệu tấn than nguyên khai tƣơng đƣơng 4344 triệu tấn than thƣơng phẩm. Hiện than tiêu thụ trong nƣớc chỉ đạt khoảng 50% sản lƣợng tiêu thụ. (Trung tâm môi trƣờng công nghiệp.
2011 [7]) Đến năm 2014, 9 tháng năm 2014 sản xuất của TKV chỉ đạt 25,635 triệu tấn than thành phẩm; than nguyên khai sản xuất 27,2 triệu tấn. (Theo Bộ Công thƣơng. 2014 [8]) Khai thác than ở nƣớc ta ngày càng tăng về số lƣợng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tuy nhiên việc khai thác than ồ ạt cũng đem lại những hậu quả nghiêm trọng cho môi trƣờng. Một trong những tỉnh chịu những hậu quả ghê gớm nhất từ khai thác than đó là tỉnh Quảng Ninh, nơi chiếm 90% trữ lƣợng than của cả nƣớc, đây cũng là nơi có số mỏ khai thác nhiều nhất.
(Tiểu luận tình hình khai thác than ở Quảng Ninh. 2014 [9]) c) Tình hình khai thác than ở lưu vực Hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh Yên Lập là hồ nhân tạo, với trữ lƣợng trung bình khoảng 127 triệu m3 nƣớc, có nhiệm vụ cung cấp nƣớc phục vụ sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân các địa phƣơng: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Quảng Yên và Hoành Bồ. Hiện nay, trong khu vực lòng hồ Yên Lập đang có 2 đơn vị khai thác than là công ty Than Uông Bí thuộc Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam và công ty than Thăng Long, thuộc tổng công ty Đông Bắc. 5 Cụ thể Xí nghiệp Than Uông Bí hiện đang có 2 lò ở phía Đông xã Quảng La và 2 lò khu Hạ My (Hoành Bồ) đang hoạt động.
Do đƣợc đầu tƣ từ nhiều năm trƣớc, nên hệ thống hạ tầng thu gom nƣớc thải ở đây chƣa đảm bảo, vẫn còn tình trạng nguồn nƣớc thải từ các lò khai thác chảy trực tiếp vào các suối trong khu vực khiến cho hệ nƣớc mặt của các khe suối khu vực này bị ô nhiễm. Trong đó đáng lo ngại vì đây là nguồn nƣớc phía thƣợng nguồn, làm ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng nƣớc của toàn bộ hồ. Khu vực sàng tuyển của đơn vị đƣợc thực hiện ngoài trời, không có mái che; các bãi đổ thải cũng chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức, chƣa có hệ thống thu gom nƣớc mƣa chảy tràn để lắng lọc trƣớc khi chảy vào các nguồn nƣớc tiếp nhận. Bởi vậy, vào mùa mƣa lũ nƣớc chảy tràn qua bãi sàng tuyển chảy xuống các khe suối, đồng thời kéo theo than, đất dẫn đến tác động bồi lắng dòng chảy.
Riêng hệ thống đƣờng vận chuyển của 2 đơn vị này đang bị xuống cấp. Thời gian vừa qua, mặc dù đã đƣợc doanh nghiệp tu bổ, sửa chữa, song chƣa triệt để, kịp thời, nên vẫn diễn tra tình trạng rửa trôi đất đá và than theo nguồn nƣớc xuống các khe suối vùng hạ lƣu. Tƣơng tự nhƣ vậy, các bãi đổ thải của Công ty Thăng Long cũng đang tồn tại nhiều bất cập, gây ảnh hƣởng không tốt tới môi trƣờng nƣớc lòng hồ Yên Lập. Cụ thể, Công ty bố trí khu vực xử lý nƣớc thải ở vị trí thấp, bởi vậy trong mùa mƣa thƣờng bị ngập, không vận hành đƣợc.
Đơn cử nhƣ trạm xử lý nƣớc thải hầm lò phân xƣởng khai thác 4 (mỏ Dân Chủ - Quảng La) nằm ở đầu nguồn nƣớc hồ Yên Lập.