CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ðỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ðỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 1. Khái quát về tổ chức phi chính phủ nước ngoài Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) không phải là một thuật ngữ thống nhất mang tính pháp lý, mỗi nước có thể sử dụng khác nhau tùy tính chất cần nhấn mạnh. Căn cứ vào những thực thể phi chính phủ, hay các mục ñích hoạt ñộng không vì lợi nhuận, tham gia vào các hoạt ñộng không vì lợi nhuận, tham gia vào các hoạt ñộng phát triển hay các hoạt ñộng vận ñộng mà các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu lại ñưa ra các khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ.
Cho tới nay trên thế giới, các quốc gia, các tổ chức quốc tế có nhiều quan ñiểm khác nhau về phân loại và ñịnh nghĩa về tổ chức phi chính phủ, cụ thể: - Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Một tổ chức phi chính phủ là một tổ chức không thuộc về bất cứ chính phủ nào”. - Liên Hợp Quốc - cơ quan ña quốc gia ñưa ra khái niệm như sau: “Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng ñể chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ văn hoá xã hội, ủy hội từ thiện, tập ñoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt ñộng vì lợi nhuận. Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận. Tổ chức này không bao gồm các nghiệp ñoàn, ñảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”.[6, tr20] Luan van 18 - Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức phi chính phủ ñược xác ñịnh là “những nhóm tổ chức tư nhân theo ñuổi các hoạt ñộng ñể giảm bớt ñau khổ, thúc ñẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay ñảm nhiệm việc phát triển cộng ñồng”.
Theo các quan niệm trên thì tổ chức phi chính phủ có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt ñộng của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn ñộc lập với chính phủ. Giá trị của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu thể hiện qua hoạt ñộng viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện. Cho dù trong hai thập kỷ trở lại ñây hoạt ñộng của các tổ phi chính phủ ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn nhưng các nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là ñặc ñiểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ. Cũng tùy theo quan niệm khác nhau của mỗi quốc về phân loại và ñịnh nghĩa phi chính phủ mà các tổ chức phi chính phủ ñược tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau, cụ thể như: Nước Mỹ gọi là tổ chức bất vụ lợi, tổ chức ñược miễn thuế; nước Pháp gọi là tổ chức kinh tế- xã hội; nước Anh gọi là hội từ thiện công; nước ðức gọi là hiệp hội còn nước Nhật thì gọi là tổ hợp công ích; một số nước lại dùng thuật ngữ “tổ chức tự nguyện, phi lợi nhuận”.
Tuy tên gọi khác nhau nhưng tất cả ñều giống nhau ở tính chất tự nguyện và ñứng ngoài chính phủ. Trên thực tế, còn có các tổ chức hợp ñồng dịch vụ công cộng cũng mang tính chất phi chính phủ nhưng lại là sự pha trộn giữa tính chất tự nguyện và tính chất thương mại. Như vậy, có thể nhận thấy rõ ñặc ñiểm mang tính bản chất của tổ chức phi chính phủ là các tổ chức phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các hoạt ñộng hỗ trợ phát triển và hoạt ñộng không vì lợi nhuận. [1, tr40] Ở mỗi quốc gia hiện nay ñang tồn tại nhiều tổ chức phi chính phủ, bao gồm cả tổ chức phi chính phủ trong nước, ñược cơ quan chính phủ thành lập Luan van 19 và cho phép hoạt ñộng, hoạt ñộng phi lợi nhuận và không nằm trong hệ thống tổ chức bộ máy của nhà nước; bên cạnh ñó, còn có nhiều tổ chức quốc tế hoạt ñộng ñộc lập, phi lợi nhuận, ñược nhà nước (chính phủ) cho phép hoạt ñộng trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, ñược gọi là tổ chức phi chính phủ nước ngoài.
Xuất phát từ những quan niệm và thực tiễn hoạt ñộng của các tổ chức phi chính phủ nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát về tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) như sau: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là những tổ chức ñược thành lập ở các quốc gia khác, hoạt ñộng phi lợi nhuận trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trên cơ sở cho phép của chính phủ sở tại. Theo cách hiểu về tổ chức phi chính phủ và tổ chức PCPNN nêu trên, thì mọi khoản lợi nhuận nếu có của tổ chức phi chính phủ không ñược và không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận. Trên thực tế, một số tổ chức phi chính phủ ñược thành lập chính thức và một số không chính thức, tương ñối ñộc lập với chính phủ và ñược ñặc trưng chủ yếu bởi tính nhân ñạo hay tính cộng ñồng thay vì mục tiêu hoạt ñộng thương mại. Tổng thể các tổ chức phi chính phủ hình thành khu vực phi chính phủ, tồn tại cùng với khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực tập thể; hoạt ñộng ña dạng trong các lĩnh vực dịch vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân ñạo.
gọi chung là các hoạt ñộng phục vụ lợi ích công cộng phát triển lành mạnh, công bằng, bình ñẳng, vì sự tiến bộ xã hội. Khái quát về quản lý nhà nước ñối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “QLNN là sự tác ñộng có tổ chức và ñiều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước ñối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt ñộng của con người ñể duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” Luan van 20 [5, tr. Theo Giáo trình quản lý nhà nước (QLNN) ñối với tổ chức phi chính phủ của Học viện Hành chính Quốc gia, 2012: “QLNN ñối với tổ chức PCPNN là hoạt ñộng thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng ñối ngoại thông qua quá trình sử dụng các phương thức quản lý ñể tác ñộng, ñiều chỉnh các hoạt ñộng của các tổ chức PCPNN diễn ra theo ñúng quy ñịnh của pháp luật” [8, tr76]. ðây là khái niệm ñược sử dụng phổ biến trong hoạt ñộng QLNN, thể hiện khá rõ mục ñích, ñối tượng, nội dung và phương thức quản lý.
Theo ñó, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả ủng hộ cách tiếp cận và sử dụng khái niệm trên ñể làm sáng tỏ ñối tượng nghiên cứu của ñề tài luận văn. Phân tích khái niệm trên có thể nhận thấy những ñiểm cơ bản sau: - Thứ nhất, thực chất của QLNN ñối với tổ chức PCPNN là QLNN trên lĩnh vực ñối ngoại. Quan ñiểm, chủ trương của ðảng và Nhà nước ta về quản lý tổ chức PCPNN là nhất quán thông qua các văn bản chính thức của ðảng và Nhà nước, thể hiện rõ lập trường và quan ñiểm chỉ ñạo của ðảng và Nhà nước vì mục tiêu giữ vững an ninh, xây dựng và phát triển ñất nước. Vì vậy, QLNN ñối với các tổ chức PCPNN phải luôn song hành với hệ thống chính trị, phù hợp với các quyết sách chính trị của ðảng và Nhà nước; mọi hoạt ñộng QLNN phải ñảm bảo nằm trong khuôn khổ quy ñịnh của pháp luật; các chính sách, quy ñịnh của Nhà nước về quản lý liên quan ñến hoạt ñộng của các tổ chức PCPNN cần phải ñược công khai, minh bạch.
Trong bối cảnh phức tạp của môi trường toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới ñang có những dấu hiệu bất ổn. Một nước có nền kinh tế ñang hội nhập mạnh mẽ, bắt buộc Việt Nam phải phát huy tối ña nội lực của mình, tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia khác, của các tổ chức quốc tế, trong ñó có tổ chức PCPNN. Trước tình hình ñó, việc giữ vững môi trường an ninh chính trị, kinh Luan van 21 tế, xã hội và ñối ngoại trở nên thiết yếu và cấp bách. Từ thực tiễn trên, ñể ñảm bảo về mặt chính trị, xã hội, bảo hiểm về mặt kinh tế, ñòi hỏi sự quản lý của Nhà nước phải coi trọng vai trò làm chủ của nhân dân, ñồng thời khẳng ñịnh sự lãnh ñạo của ðảng, cũng là khẳng ñịnh ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
Cụ thể, quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trước hết phải ñảm bảo ñúng ñường lối, chính sách chỉ ñạo của ðảng về ñối ngoại nói chung và ñối ngoại nhân dân nói riêng; phải ñảm bảo sự quản lý thống nhất, tập trung là ñể tránh buông lỏng, thả nổi quản lý dẫn ñến các hiện tượng tự do chủ nghĩa, vô chính phủ; dân chủ là ñể tránh thâu tóm quyền lực dẫn ñến ñộc quyền, ñộc tài; có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước các cấp theo luật ñịnh. Các bộ ngành và các ñịa phương có trách nhiệm chung trong việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý mà Nhà nước giao cho từng ñịa phương ñể ñạt ñược mục ñích quản lý chung ñảm bảo ñược sự thống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ. Ở tầm vĩ mô và chiến lược của Nhà nước; phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về công tác phi chính phủ nước ngoài nói riêng; phải giáo dục pháp luật, tăng cường nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật cho cả tổ chức phi chính phủ nước ngoài và người dân; phải xử lý nghiêm minh mọi vi phạm dù là của phía nước sở tại hay của phía nước ngoài theo ñúng những quy ñịnh của pháp luật nước sở tại và phù hợp với luật pháp quốc tế; phải ñảm bảo sao cho tất cả vì nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, phải tăng cường sự tham gia của nhân dân vào công tác quản lý ñể người dân không chỉ ñơn thuần là ñối tượng nhận viện trợ mà trở thành một bên ñối tác trong cơ chế hợp tác ba bên: Chính quyền, nhân dân, các tổ chức PCPNN. - Thứ hai, Nhà nước quản lý tổ chức PCPNN bằng pháp luật.