Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chỉnh trang đô thị. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chỉnh trang đô thị trên địa bàn quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Các giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về chỉnh trang đô thị trên địa bàn quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm về đô thị Thuật ngữ “đô thị” là tên gọi chung cho tất cả thành phố, thị xã, thị trấn của nước ta. Tên gọi này có xuất xứ từ lịch sử hình thành các đô thị cổ Việt Nam. Các đô thị cổ được hình thành trong các triều đại phong kiến trước đây đều xuất phát từ yếu tố “đô” và “thị” trong đó “đô” (yếu tố hành chính) thường chiếm vị trí quan trọng nhất.
“Đô” thường là các lỵ sở của nhà nước ở Trung ương và địa phương. Đó là các cung điện, lầu các, dinh thự, công đường, nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình phong kiến ở Trung ương và địa phương, cũng như nơi ở của vua quan và gia đình dòng tộc. “Thị” có nội hàm là thị trường, là chợ hàng hóa, vì có “đô” thì “thị” tất yếu phải mọc lên để phục vụ việc mua bán, trao đổi mà trước hết là lương thực, thực phẩm và các hàng hóa tiêu dùng tối thiểu cho các quan chức, quân đội và một số thị dân. Sự xuất hiện các chợ sẽ kéo theo sự tụ tập của dân cư, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, và theo đó thúc đẩy các đô thị phát triển.
Như vậy “đô” và “thị” là hai yếu tố cơ bản hình thành nên các đô thị, không những đô thị cổ trước đây mà cả các đô thị ngày nay. Tuy nhiên, các đô thị ngày nay không phải chỉ dựa trên hai yếu tố đó mà còn nhiều yếu tố khác như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, giao thông vận tải,… Từ những quan điểm trên, có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị theo các góc độ tiếp cận. Khái niệm chung nhất cho rằng: Đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao hơn. 18 e Luật Quy hoạch đô thị năm 2009: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.1 Theo Nghị định 72/2001/NĐ-CP của Chính phủ, quy định đô thị nước ta là các điểm dân cư phải là các thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập và về mức độ phát triển phải đạt được các tiêu chuẩn sau: - Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
- Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4 ngìn người. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại phát triển. - Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động của dân cư, tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định đối với từng loại đô thị. - Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm từng loại đô thị, tối thiểu là 2 nghìn người/km2 trở lên.
Phân loại đô thị Việt Nam: Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V. Ngoài ra còn có những khái niệm khác về đô thị cũng như do có sự phát triển khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội, về phát triển hệ thống đô thị và về cơ cấu hành chính mà mỗi nước có những quy định riêng về điểm dân cư đô thị và do đó, các tiêu chí, tiêu chuẩn quy định của các nước cũng khác nhau. 1 Xem: Luật Quy hoạch Đô thị, 2009. Khái niệm về chỉnh trang đô thị Theo định nghĩa từ điển Tiếng Việt Chỉnh trang là sửa sang, sắp đặt lại cho ngay ngắn, đẹp đẽ2.
Từ định nghĩa từ điển Tiếng Việt “chỉnh trang” (là làm lại, chỉnh sửa, điều chỉnh cho đẹp; chỉnh đốn, trang hoàng cho đẹp mắt) và “đô thị” như đã tìm hiểu ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Chỉnh trang đô thị là làm mới các công trình bao gồm sửa chữa và xây mới tạo không gian mỹ quan cho đô thị và tạo môi trường sống tốt hơn, hợp lý hơn, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan xung quanh, đồng thời phù hợp với sự phát triển chung của đô thị. Chỉnh trang đô thị là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động như: quy hoạch phát triển đô thị, đầu tư, xây dựng hạ tầng kĩ thuật đô thị, xây dựng nhà ở, cải tạo cảnh quan và môi trường đô thị. Mục đích của chỉnh trang đô thị Mục đích của chỉnh trang đô thị nói chung là hướng tới việc phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân. Chỉnh trang đô thị là nhằm cải tạo môi trường sinh thái, cảnh quan đô thị, cải thiện chất lượng sống của nhân dân, và nâng cao tính hấp dẫn, khả năng cạnh tranh của đô thị, tạo cơ sở cho đô thị phát triển bền vững.
Đặc thù của công tác chỉnh trang đô thị nặng về việc bảo vệ lợi ích lâu dài và lợi ích chung của cộng đồng. Yêu cầu của chỉnh trang đô thị Chỉnh trang đô thị cần đi trước một bước và mang tính chiến lược hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, chỉnh trang đô thị cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: Bền vững về xã hội: Để đô thị phát triển bền vững, chỉnh trang đô thị phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội, kỹ thuật và dịch vụ thiết yếu. Để đạt được yêu cầu đó, công tác tuyên truyền 2 Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, 2010.
20 e phải được tiến hành xuyên suốt; chính quyền cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân được tham gia, đóng góp ý kiến về chỉnh trang, quản lý và phát triển đô thị. Bền vững về tự nhiên: Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc chỉnh trang phải tạo sự thân thiện với môi trường xung quanh, ứng phó thích nghi với biến đổi khí hậu; thiết lập một thứ tự ưu tiên để có giải pháp thực hiện cụ thể. Bền vững về kỹ thuật: Thể hiện sự gắn kết với quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và thiết kế cảnh quan đô thị. Chỉnh trang đô thị cần được quy định chi tiết tiến độ thi công, đồng bộ các hạng mục, xây trước, xây sau nhịp nhàng và hợp lý.
Trong đó lựa chọn công nghệ cũng là điều đáng chú ý. Công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp với sự tiến bộ, với năng lực vận hành, với điều kiện kinh tế - xã hội… Bền vững về tài chính: Công tác phân tích kinh tế - xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở tất cả các giai đoạn của dự án nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý. Chỉnh trang đô thị cần tăng cường điều tiết khống chế vĩ mô, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, sự hiểu biết và trách nhiệm của cộng đồng, các bên liên quan trước pháp luật về chỉnh trang đô thị. Về quy trình khi thực hiện chỉnh trang đô thị cần tập trung thực hiện các yêu cầu sau: Đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồn tài nguyên tự nhiên: Nhiệm vụ này khẳng định các cơ sở để một đô thị tồn tại lâu dài.
Kinh nghiệm cho thấy những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, ít lụt bão thiên tai. cũng là nơi để các đô thị tọa lạc và ngày càng phồn thịnh. Các phân tích và dự báo phát triển kinh tế - xã hội phải chính xác, đồng bộ, cập nhật góp phần phân tích đánh giá các xu hướng, động lực phát triển kinh tế, tình hình đời sống xã hội và diễn biến dân số đô thị nhằm cụ thể hóa các nhu cầu phát triển không gian mà chỉnh trang đô thị cần đáp ứng. 21 e Cân đối đất đai và cơ sở vật chất cho các hoạt động kinh tế - xã hội đô thị: Các quỹ đất có thể phát triển đô thị sẽ được cân đối để làm sao vừa đáp ứng cho các thời kỳ phát triển đô thị ngày càng cao, vừa đảm bảo mật độ tiện nghi cần thiết và quỹ đất cho các hoạt động khác.
Đồng thời giải pháp nhà ở và các công trình phục vụ công cộng (trường học, bệnh viện, cây xanh, công viên.) cũng được hoạch định. Tổ chức phát triển giao thông đô thị: Nhiệm vụ này nhằm bố trí đủ và hợp lý cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đi lại của người dân trong đô thị cũng như với các địa bàn khác và quốc gia. Đồng thời, nó cũng xác định chỉ giới giao thông và hành lang bố trí các hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đảm bảo cung cấp hạ tầng kỹ thuật: Nhiệm vụ này đảm bảo các nhu cầu cấp nước, cấp điện và thoát nước, các nhu cầu cơ bản và thường xuyên cho sự tồn tại và phát triển của các hoạt động đô thị.
Đảm bảo vệ sinh môi trường: Rác thải đô thị các loại ngày càng nhiều và cần có giải pháp thu gom và xử lý hữu hiệu. Bên cạnh đó là các vấn đề đảm bảo vệ sinh công cộng, đảm bảo yếu tố văn minh đô thị.