CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA TRONG LĨNH VỰC NN&PTNT 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA 1. Khái niệm và các hình thức của nguồn vốn ODA a. Khái niệm nguồn vốn ODA Thuật ngữ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) xuất hiện từ sau chiến tranh Thế giới II và gắn liền với yếu tố chính trị.
Thật vậy, sau đại chiến Thế giới lần thứ II, cả Châu Âu, Châu Á đều đứng trước cảnh đổ nát, hoang tàn. Chỉ có Châu Mỹ nói chung và nước Mỹ nói riêng là không bị ảnh hưởng mà ngược lại, nước Mỹ nhờ chiến tranh trở nên giàu có. Trước tình hình đó, Mỹ thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch viện trợ này được gọi là "Hỗ trợ phát triển chính thức" thông qua WB.
Đây được xem như trận mưa đôla khổng lồ cho Châu Âu. Vì vậy, bản chất của hỗ trợ phát triển chính thức là nguồn tài trợ của nước này dành cho nước khác nhằm hỗ trợ và thúc đẩy cho quốc gia đó phát triển về kinh tế - xã hội. Còn nguồn gốc sâu xa của sự ra đời ODA chính là do yếu tố chính trị[25]. Đến nay, thuật ngữ ODA được sử dụng khá phổ biến.
ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước phát triển dành cho Chính phủ một nước (thường là nước đang phát triển) nhằm phát triển kinh tế xã hội tại đất nước đó. Nghị định 17/CP ngày 14/5/2001 của Chính phủ Việt Nam chỉ rõ: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ (nước ngoài, Các tổ chức liên minh Chính phủ hoặc liên quốc gia) dưới các hình thức chủ yếu là hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ chương trình và hỗ trợ dự án với yếu tố không hoàn lại (hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25% [8]. Các hình thức ODA Phân theo phương thức hoàn trả + ODA không hoàn lại:Là hình thức cung cấp ODA mà bên nhận tài trợ không phải hoàn trả cho bên tài trợ. Có thể coi viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu của ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp phát lại cho các nhu cầu phát triển KT-XHcủa đất nước.
Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% trong tổng số vốn ODA trên Thế giới. Tuỳ theo hoàn cảnh mỗi nước nhận viện trợ mà hình thức viện trợ không hoàn lại có sự thay đổi. Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:(i) Hỗ trợ kỹ thuật;(ii) Viện trợ nhận đạo bằng hiện vật. + ODA vay tín dụng ưu đãi: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền, với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường hoặc không lãi mà chỉ chịu chi phí dịch vụ, thời hạn vay và thời gian trả nợ dài, có khoản vay còn được hưởng thời gian ân hạn.
Tín dụng ưu đãi (chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn vay ODA trên Thế giới) là nguồn thu phụ thêm (Nhà nước phải đi vay) để bù đắp thâm hụt ngân sách. + ODA vay hỗn hợp: Là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần ODA vay tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển. Nhìn chung hiện nay các nước cung cấp ODA đang có chiều hướng giảm viện trợ không hoàn lại và tăng hình thức vay tín dụng ưu đãi và cho vay hỗn hợp. Phân loại theo nguồn cung cấp + ODA song phương:Là các khoản tài trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia (nước phát triển tài trợ cho nước đang kém phát triển) thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.
Thông thường trong tổng số ODA lưu chuyển trên Thế giới, phần tài trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn (có khi lên tới 80%) lớn hơn nhiều so với viện trợ đa phương. + ODA đa phương: Là các khoản tài trợ phát triển chính thức của một số tổ chức tài chính quốc tế và khu vực (IMF,WB,ADB…) hoặc các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc như: UNDP, UNICEF, FAO, IFAD …,các tổ chức thuộc Liên 8 minh Châu Âu (EU), và các tổ chức phi chính phủ NGO. Các nhà tài trợ cung cấp ODA cho các nước nghèo hơn chủ yếu là vì mục tiêu chính trị, chiến lược hoặc kinh tế. Một số hỗ trợ phát triển xuất phát từ lý do nhân đạo.
Phân loại theo mục tiêu sử dụng + Hỗ trợ cán cân thanh toán:Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: Chuyển giao tiền tệ hoặc hiện vật cho nước nhận ODA.Hỗ trợ nhập khẩu (tài trợ hàng hoá); Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hoàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ. + Hỗ trợ theo chương trình:Là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ sử dụng như thế nào. Đây là loại hình ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án, hay nhiều hợp phần. + Hỗ trợ theo dự án:Là khoản hỗ trợ, nước nhận hỗ trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án.
Loại hình hỗ trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn ODA và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trị giá vốn của các dự án đầu tư thường lớn hơn và thời gian thực hiện dài hơn các loại dự án khác. + Hỗ trợ kỹ thuật:Là loại hình thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao kiến thức hoặc vào việc tăng cường cơ sở, lập kế hoạch, tư vấn, nghiên cứu tình hình thực tiễn, nghiên cứu tiền khả thi… chủ yếu vốn của dự án hỗ trợ kỹ thuật dành cho thuê tư vấn quốc tế, tư vấn trong nước, tổ chức đào tạo, nghiên cứu khảo sát và mua sắm thiết bị văn phòng. Trị giá vốn của các dự án hỗ trợ kỹ thuật không lớn[1].
Các nhà tài trợ nguồn vốn ODA Nguồn ODA được phân bổ rộng khắp trên Thế giới là do các nhà tài trợ, một mặt phải thực hiện nghĩa vụ quốc tế như qui định bắt buộc của Liên hiệp Quốc. Mặt khác, bản thân các nhà tài trợ cũng muốn nâng cao vị thế của mình, vươn rộng tầm ảnh hưởng ra các khu vực khác. Họ không chỉ muốn tìm kiếm những lợi ích về kinh tế mà còn muốn tăng cường ảnh hưởng về chính trị đối với một phạm vi nào đó các quốc gia trên Thế giới thông qua cung cấp ODA. 9 Các nhà tài trợ ODA song phương Hiện nay, có 25 nhà tài trợ song phương thường xuyên cung cấp ODA cho Việt Nam, trong đó có 21 nhà tài trợ cam kết ODA thường niên được kể đến như: Australia, Bỉ, Canađa, Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lux-xem-bua, Hà Lan, Niu-di-lân, Na Uy, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ.
Có 4 nhà tài trợ không cam kết ODA thường niên mà cam kết ODA theo từng dự án cụ thể đó là: Áo, Trung Quốc, Nga, Singapore. Các nhà tài trợ ODA đa phương Nguồn ODA đa phương được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các nước thành viên của mỗi tổ chức. Hiện có 14 tổ chức tài trợ đa phương cho Việt Nam gồm Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Uỷ ban Châu Âu (EC), Quĩ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) [23]. Đặc điểm nguồn vốn ODA a.
Vốn ODA mang tính ưu đãi: Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài. Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại.
Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế. Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Vốn ODA mang tính ràng buộc: ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận.
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ 10 vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu[26].
Qui trình thu hút, vận động và sử dụng, quản lý nguồn vốn ODA Công tác thu hút, vận động nguồn vốn ODA là một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp và nhạy cảm, được thực hiện qua các bước công việc cụ thể sau: a. Xây dựng các danh mục chương trình dự án ưu tiên vận động nguồn vốn ODA - Trước quí IV hàng năm, cơ quan chủ quản thông báo Bộ Kế hoạch và Đầu tư văn bản danh mục chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA, kèm theo đề cương cho từng chương trình dự án.