Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Gia Lai sở hữu gần 1.000.000 ha đất quy hoạch lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng đạt 749.769 ha với tổng trữ lượng gỗ ước tính 75,6 triệu m³. Chiếm 28% diện tích lâm nghiệp, 30% diện tích rừng và 38% trữ lượng gỗ của toàn vùng Tây Nguyên, Gia Lai giữ vị trí chiến lược xung yếu về môi trường sinh thái và quốc phòng an ninh. Nhằm quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên này, toàn tỉnh đã thành lập 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, bảo vệ gần 330.000 ha rừng trải rộng trên địa bàn 17 đơn vị hành chính cấp huyện.

Do là đơn vị sự nghiệp công lập không có nguồn thu, 100% kinh phí hoạt động thường xuyên của 21 ban quản lý đều do ngân sách nhà nước cấp phát toàn bộ. Tuy nhiên, giai đoạn 2015 - 2018 chứng kiến nhiều bất cập phát sinh trong công tác điều hành tài chính công. Việc lập, giao, chấp hành và quyết toán dự toán chưa bám sát yêu cầu thực tiễn của ngành lâm nghiệp, dẫn đến tình trạng phân bổ vượt định mức, chi sai nguồn và bị Kho bạc Nhà nước từ chối thanh toán.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Ly tập trung phân tích toàn diện công tác quản lý nhà nước đối với các khoản chi thường xuyên tại 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2018. Mục tiêu chính là nhận diện nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí ngân sách, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng của lý thuyết Quản trị tài chính công hiện đại và lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management). Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước được xác định là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động có hệ thống vào từng khâu của chu trình ngân sách, nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính được phân bổ đúng định mức, tiết kiệm và phát huy hiệu quả cao nhất.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Chi thường xuyên ngân sách nhà nước: Khoản chi tiêu dùng công cộng mang tính ổn định, nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và cung ứng dịch vụ công.
  • Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí: Loại hình đơn vị không có nguồn thu sự nghiệp, vận hành theo cơ chế tự chủ tài chính quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 141/2016/NĐ-CP.
  • Định mức phân bổ dự toán: Căn cứ pháp lý cốt lõi xác định số kinh phí giao cho từng biên chế hoạt động trong năm ngân sách.
  • Chu trình quản lý chi ngân sách: Hệ thống 6 khâu khép kín gồm lập dự toán, giao dự toán, chấp hành dự toán, kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước, quyết toán và thanh tra kiểm toán.

Nghiên cứu nhấn mạnh 3 nguyên tắc quản trị bắt buộc: nguyên tắc quản lý theo dự toán đã được Hội đồng nhân dân phê duyệt, nguyên tắc tiết kiệm - hiệu quả và nguyên tắc chi trả trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước đến đối tượng thụ hưởng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra toàn bộ (census) với cỡ mẫu khảo sát là 21/21 Ban Quản lý rừng phòng hộ trên toàn địa bàn tỉnh Gia Lai trong khung thời gian 4 năm liên tục từ 2015 đến 2018. Việc chọn toàn bộ 100% đơn vị thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên giúp loại bỏ sai số chọn mẫu, phản ánh chính xác bức tranh tài chính đặc thù của toàn bộ hệ thống rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các hồ sơ pháp lý, báo cáo tài chính, quyết định giao dự toán và biên bản thẩm tra quyết toán hàng năm của Sở Tài chính tỉnh Gia Lai, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, cùng hệ thống báo cáo kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai.

Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh chuỗi thời gian (cả số tuyệt đối và số tương đối) bằng công cụ Microsoft Excel. Phương pháp này giúp đo lường mức độ biến động tỷ trọng chi giữa các năm, làm rõ tỷ lệ thực hiện dự toán so với kế hoạch và xác định chính xác các khoản chi sai quy định qua từng niên độ ngân sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2015 - 2018 tại 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai chỉ ra 4 vấn đề trọng yếu:

Thứ nhất, quy trình lập dự toán chủ yếu dựa trên phương pháp gia tăng cơ học, lấy số liệu năm trước cộng thêm phần tăng lương cơ sở. Giai đoạn 2015 - 2016, định mức chi khác được tính bằng 50% quỹ lương ngạch bậc. Từ năm 2017, khi chuyển sang áp dụng định mức chi theo đầu biên chế theo Nghị quyết số 26/2016/NQ-HĐND (từ 27 đến 30 triệu đồng/biên chế/năm), mức cấp phát này không bù đắp đủ chi phí tuần tra thực tế cho địa bàn rừng núi hiểm trở.

Thứ hai, cơ cấu chi thường xuyên mất cân đối nghiêm trọng. Quỹ tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương chiếm tới 65% - 70% tổng chi thường xuyên. Kinh phí chi hoạt động chuyên môn lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 30% - 35%, khiến các hoạt động bảo vệ rừng bị thiếu hụt nguồn lực trầm trọng.

Thứ ba, công tác chấp hành và kiểm soát chi bộc lộ nhiều sai phạm. Giai đoạn 2015 - 2018, Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai đã từ chối thanh toán hàng chục bộ hồ sơ chứng từ thanh toán do vượt định mức hoặc sai nội dung mục lục ngân sách. Cơ quan tài chính đã phải thực hiện thu hồi và trừ dự toán năm sau đối với các khoản cấp sai nguồn giai đoạn 2016 - 2018 lên tới hàng trăm triệu đồng.

Thứ tư, bất cập về tổ chức bộ máy và quản lý lao động. Do chính sách tinh giản biên chế giai đoạn 2014 - 2018, các ban không được tuyển mới biên chế khi có người nghỉ hưu, buộc phải ký hợp đồng lao động thời vụ. Tuy nhiên, ngân sách chỉ cấp lương cơ bản cho các lao động hợp đồng này mà không bố trí định mức chi khác, gây áp lực tài chính rất lớn cho đơn vị.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh rõ sự mâu thuẫn giữa quy chế quản lý tài chính công hiện hành với tính chất đặc thù của hoạt động lâm nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, các Ban Quản lý rừng phòng hộ là chủ rừng nhưng không được trao quyền xử phạt vi phạm hành chính, dẫn đến phát sinh nhiều chi phí phối hợp tuần tra liên ngành mà không có nguồn dự toán tương ứng.

Nguyên nhân cốt lõi đến từ năng lực quản trị: 100% giám đốc các ban quản lý đều có chuyên môn lâm sinh nhưng thiếu chứng chỉ quản lý tài chính nhà nước. Đồng thời, mỗi ban chỉ bố trí duy nhất 01 nhân sự kế toán thuộc bộ phận phục vụ. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin lạc hậu, các ban sử dụng nhiều phần mềm kế toán khác nhau và chưa đồng bộ dữ liệu với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân tích cơ cấu chi thường xuyên (quỹ lương so với chi hoạt động) và biểu đồ cột so sánh giữa dự toán phân bổ với số liệu quyết toán thực tế giai đoạn 2015 - 2018. Cùng với đó, bảng thống kê các khoản chi bị Kho bạc Nhà nước từ chối thanh toán và số liệu giảm trừ dự toán năm sau phản ánh trung thực mức độ sai lệch tài chính của các đơn vị.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên tại 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai giai đoạn 2021 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đổi mới phương pháp lập và phân bổ dự toán: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Tài chính Gia Lai tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng định mức chi thường xuyên kết hợp giữa đầu biên chế với diện tích rừng thực tế quản lý (ha). Mục tiêu đưa tỷ lệ sai lệch giữa dự toán giao đầu năm và quyết toán thực tế về dưới 3% trong giai đoạn 2021 - 2023.

  2. Thắt chặt kiểm soát chi và hiện đại hóa quy trình thanh toán: Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai thực hiện kiểm soát chi trực tiếp 100% qua tài khoản ngân hàng, kiên quyết từ chối các khoản chi ngoài danh mục tự chủ và chấm dứt tình trạng chi sai nguồn bị trừ dự toán năm sau từ năm 2022.

  3. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính: Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai chỉ đạo Sở Nội vụ tổ chức bồi dưỡng chứng chỉ quản lý kinh tế cho 100% lãnh đạo ban và chuẩn hóa nghiệp vụ kiểm soát nội bộ cho 21 kế toán trưởng trước quý IV năm 2022.

  4. Ứng dụng đồng bộ công nghệ thông tin: Triển khai thống nhất một phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC cho 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ, kết nối dữ liệu số trực tiếp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Tài chính trong thời hạn 12 tháng.

  5. Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Tài chính: Ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế tự chủ tài chính đặc thù theo Nghị định số 141/2016/NĐ-CP dành riêng cho các đơn vị quản lý bảo vệ rừng vùng sâu, vùng xa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban Giám đốc và kế toán trưởng tại 21 Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên: Sử dụng luận văn làm cẩm nang hướng dẫn xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, lập hồ sơ dự toán chi đúng định mức và hạn chế tối đa rủi ro xuất toán khi quyết toán.

  2. Cán bộ thẩm định thuộc Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kho bạc Nhà nước: Tham khảo khung đánh giá 6 khâu chu trình ngân sách để nâng cao chất lượng thẩm tra dự toán và tăng cường hiệu lực thanh tra, kiểm tra tài chính công tại các đơn vị trực thuộc.

  3. Các cơ quan hoạch định chính sách cấp Bộ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Sử dụng dữ liệu thực chứng từ Gia Lai để điều chỉnh định mức phân bổ ngân sách lâm nghiệp và hoàn thiện khung pháp lý về quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.

  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu chi tiêu công cấp địa phương và mô hình phân tích dữ liệu chuỗi thời gian trong quản lý tài chính sự nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công tác lập dự toán tại các Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2018 chưa sát thực tế?

Các đơn vị chủ yếu áp dụng phương pháp lập dự toán gia tăng cơ học dựa trên năm trước mà không khảo sát biến động thực địa. Định mức chi khác giai đoạn 2015 - 2016 bằng 50% quỹ lương và giai đoạn sau áp dụng 27 - 30 triệu đồng/biên chế chưa tính đến chi phí tuần tra hơn 330.000 ha rừng núi hiểm trở.

Việc thiếu biên chế chính thức ảnh hưởng thế nào đến chi ngân sách của các ban quản lý?

Giai đoạn 2014 - 2018, các ban không được bổ sung biên chế thay thế người nghỉ hưu nên phải ký hợp đồng lao động ngắn hạn. Ngân sách nhà nước chỉ cấp dự toán lương cơ bản cho các lao động này mà không cấp định mức chi khác, khiến quỹ hoạt động nghiệp vụ lâm sinh bị thâm hụt nghiêm trọng.

Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai đóng vai trò gì trong việc chấn chỉnh các sai phạm tài chính?

Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi trực tiếp theo nguyên tắc không dùng tiền mặt. Giai đoạn 2015 - 2018, cơ quan này đã phát hiện và từ chối thanh toán nhiều chứng từ chi sai định mức, chi sai nguồn mục lục ngân sách, ngăn chặn kịp thời các khoản chi thất thoát trước khi quyết toán.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm lâm luật tác động ra sao đến chi phí của ban quản lý?

Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định Ban Quản lý rừng phòng hộ là chủ rừng nhưng không có thẩm quyền xử phạt hành chính. Khi phát hiện vi phạm, đơn vị phải chi thêm nguồn kinh phí phối hợp với Kiểm lâm và chính quyền địa phương, làm phát sinh các khoản chi ngoài dự toán được duyệt.

Giải pháp căn cơ nhất để nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên tại 21 ban quản lý là gì?

Giải pháp đột phá là thay đổi tiêu chí phân bổ dự toán: chuyển từ khoán theo đầu biên chế sang định mức kết hợp giữa diện tích rừng quản lý thực tế với tính chất hiểm trở của địa hình, đồng thời đồng bộ hóa 100% phần mềm kế toán quản trị tài chính.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên tại đơn vị sự nghiệp công lập không có nguồn thu thuộc ngành lâm nghiệp.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện 21/21 Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015 - 2018 với quy mô quản lý 330.000 ha rừng.
  • Chỉ ra 4 nhóm hạn chế điển hình: dự toán máy móc, quỹ lương chiếm trên 65% tổng chi, phát sinh chi sai nguồn bị Kho bạc Nhà nước từ chối thanh toán và nhân lực kế toán mỏng.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình 2021 - 2025 và trách nhiệm thực thi của Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn phục vụ đổi mới chính sách phân bổ ngân sách lâm nghiệp tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên.

Các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập cần khẩn trương rà soát lại định mức chi tiêu nội bộ, ứng dụng công nghệ số trong quản lý ngân sách để đảm bảo sử dụng nguồn vốn công minh bạch và bền vững.