Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý chỉ thường xuyên tại các. đơn vị sự nghiệp công lập. Thực trạng quản lý chỉ thường xuyên tại các đơn vị ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Một số gải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chỉ thường xuyên tại các đơn vị ban quản lý rừng phòng địa bàn tỉnh Gia Lai. 13 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE QUAN LY CHI THUONG XUYÊN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CONG LẬP. TONG QUAN VE CHI THUONG XUY! QUAN LY CHI THUONG XUYEN CUA NGAN SACH NHA NUOC, TONG QUAN VE BAN QUAN LY RUNG PHONG HQ 1. Chỉ thường xuyên của ngân sách nhà nước a.
Khái niệm Chỉ thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chỉ gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng []. b, Đặc điểm chỉ thường xuyên của ngân sách nhà nước Chỉ thường xuyên của NSNN có ba đặc điểm cơ bản là: Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chỉ thường xuyên mang tính ồn định khá rõ nét nhằm đảm bảo cung cấp nguồn tài chính cho Nhà nước có thẻ thực. hiện được các chức năng vốn có của Nhà nước như: bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội. Mặt khác, tính ồn định của chỉ thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ôn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thẻ thuộc bộ máy Nhà nước phải thực hiện.
Ví dụ: để quản lý nền kinh tế trong cả giai đoạn hưng. thịnh hay suy thoái thì những công việc thuộc về quản lý nhà nước tại các cơ quan chính quyền vẫn cứ phải duy trì đều đặn và đầy đủ. Nếu có sự khác nhau thì chỉ là ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết các công việc trong giai đoạn nền kinh tế hưng thịnh hay đang ở thời kỳ suy thoái mà thôi [1] 14 Thứ hai, xét theo cơ cấu chỉ NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chỉ thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Trong trường hợp chỉ đầu tư phát triển nhằm tạo ra các cơ sở vật chất — kỹ thuật cần thiết của nền kinh tế trong tương lai thì chỉ thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu chỉ để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý nền kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tai [1].
Khi nghiên cứu cơ cầu chỉ NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta thường phân loại các khoản chỉ thành hai nhóm: chỉ tích lũy và chỉ tiêu dùng. Theo tiêu thức này thì đại bộ phận chỉ thường xuyên được xếp vào chỉ tiêu dùng (tiêu dùng chung cho toàn xã hội). Bởi lẽ, ở trong từng niên độ ngân sách đó các khoản chỉ thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính Nhà nước; về quốc phòng an ninh, về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức. Kết quả của các hoạt động trên hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc.
không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó. Song điều đó cũng không làm mắt đi ý nghĩa chiến lược của một số khoản chỉ thường xuyên. Và theo đó người ta lại có thể coi nó như là những khoản chỉ có tính chất tích lũy đặc biệt. Lấy ví dụ như các khoản chỉ cho giáo dục — dio tạo sẽ không tạo ra của cải vật chất cho xã hội tức thì nhưng lại có ý nghĩa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai và có ảnh hưởng đến năng suất, đến chất lượng nên kinh tế tế trong tương lai.
Thứ ba, phạm vi, mức độ chỉ thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cộng. Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN 15 luôn phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước đó. Nếu một khi bộ máy quản lý nhà nước được sắp xếp gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chỉ thường xuyên được giảm bớt và ngược lại. Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chỉ thường xuyên của NSNN Lấy ví dụ trong lĩnh vực Giáo dục — đào tạo.
Trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, Nhà nước quyết định cung cấp dịch vụ này miễn phí thì tất yếu phạm vi và mức độ chỉ NSNN cho giáo dục — đào tạo phải rộng và lớn. Ngược lại trong cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt động giáo dục vừa là hàng hóa công, vừa là hàng hóa tư, nghĩa là vừa có sự chăm lo của Nhà nước vừa có sự tham gia của khu vực tư nhân. Nhờ đó mà Nhà nước có thể thu hẹp phạm vi chỉ cho lĩnh vực này [I]. Quản lý chỉ thường xuyên của ngân sách nhà nước a.
Khái niệm quản lý chỉ thường xuyên SN Quản lý chỉ thường xuyên NSNN là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động. chỉ thường xuyên NSNN, đảm bảo cho các khoản chỉ thường xuyên được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả [3]. Từ khái niệm trên có thể thấy thực chất quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình thực hiện một cách có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung thông qua các công cụ quản lý nhằm phục vụ chỉ tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của chính quyền một cách tiết kiệm và hiệu quả. Mục tiêu của quản lý chi thong xuyén NSNN Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan tổ chức chính trị - kinh tế - xã hội.
16 Đảm bảo công tác lập, xét duyệt, cấp phát dự toán kinh phí chỉ thường. xuyên được thực hiện một cách thống nhất, đúng quy định. Đảm bảo hoạt động chỉ thường xuyên của các đơn vị sử dụng dự toán được thực hiện theo đúng quy định, chế độ, chính sách hiện hành trên tỉnh thần tiết kiệm. Hạn chế việc sử dụng dự toán chỉ sai mục đích ban đầu được cấp có thâm quyền giao từ đó góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả.
Nguyên tắc quản lý chỉ thường xuyên của ngân sách nhà nước > Nguyên tắc quản lý theo dự toán Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chỉ và đã được cơ quan có thâm quyền của Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chỉ thường xuyên đã được ghi trong dự toán thẻ hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính công với các đơn vị thụ hưởng NSNN. Từ đó làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chỉ thường xuyên theo dự toán.
Việc đòi hỏi quản lý chỉ thường xuyên của NSNN phải theo dự toán là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau: Thứ nhất, hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chỉ của NSNN. phụ thuộc vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước; đồng thời luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực đó. Do vậy mọi khoản chỉ từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chỉ đó đã nằm trong cơ cấu chỉ theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua [1]. Thứ hai, phạm vi chỉ của NSNN rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Mức chỉ cho mỗi loại hoạt động được xác định theo khối lượng riêng, định mức riêng; hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị 17 cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chỉ từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau. Thứ ba, có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN, mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành quản lý NSNN và hạn chế được tính tùy tiện (về nguyên tắc) trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng ngân sách [1]. >_ Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý kinh tế, tài chính, bởi một lẽ đơn giản rằng: Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào. Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn p ính toán sao cho chỉ phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất [1].
Mặt khác, do đặc thù của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp; nhu cầu chỉ từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn vốn có hạn. Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc kiệm, hiệu quả trong quản lý chỉ thường xuyên của NSNN [1]. >_ Nguyên tắc chỉ trực tiếp qua Kho bạc nhà nước Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chỉ NSNN; đặc biệt là các khoản chỉ thường xuyên.