CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN DOI NGŨ CÁN BO, CÔNG CHỨC CÁP QUẬN 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ công chức cấp Quận. Nguôn nhân lực luôn là yếu tố giữ vai trò then chốt trong sự tồn tại và phát triển của mọi tô chức. Với các cơ quan nhà nước, thì nguồn nhân lực - hay đội ngũ cán bộ công chức lại càng là mối quan tâm hàng đầu.
Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài phát triển đội ngũ cán bộ công chức của các tác giả trong và ngoài nước. Các công trình này nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài mà tôi đã có dip tiếp cận, nghiên cứu. Các công trình khoa học trong nước.
PGS,TS Nguyễn Phú Trọng và PGS,TS Trần Xuân Sầm, 2001. Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ day mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 384 trang. Luận cứ đưa ra cơ sở lý luận trong việc sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đội ngũ công chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm đầu thế ky XXI.
Nguyễn Văn Sáu va GS. Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng Chính quyên cấp xã ở nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. * Đề tài khoa học.
PGS, TS Trần Văn Phòng, 2007. Nang cao năng lực tổng kết thực tiễn của can bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tinh vùng dong bằng sông Hong. Đề tài nghiên cứu câp bộ. Học viện Chính trị Quôc gia.
Luận văn Tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành Tổ chức và Quản lý sản xuất với đề tài: "Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điểu kiện phát triển và hội nhập quốc tế" của Trần Anh Tuấn, đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007, đã trình bày một số quan điểm, khái niệm khác nhau trong và ngoài nước về Công chức. Nội dung luận án đi sâu phân tích thực trạng của thể chế quản lý công chức hành chính nước ta theo xu thế từng bước hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa, hợp lý hóa, khoa học hóa và hội nhập hóa. Luận án nêu rõ 6 quan điểm và nguyên tắc cần tuân thủ trong quá trình hoàn thiện thé chế quản lý công chức hành chính ở Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng nêu 2 nhóm giải pháp trong đó có 9 giải pháp ngắn hoạn và 7 giải pháp dai hạn can tiến hành dé hoàn thiện đội ngũ cán bộ công chức trong giai đoạn 2007-2020.
Luận văn Thạc sĩ quản lý Kinh tế: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" của Nguyễn Thị Hồng Dung, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội (2015), đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng CBCC trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Luận văn cũng đánh giá những thành công, hạn chế mà huyện Diễn Châu đã thực hiện và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay tại Diễn Châu, Nghệ An. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp Quận ở Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Lê Thị Thanh Phụng, 2003. Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp Quận miễn nui ở Lâm Đồng hiện nay. Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính tri quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Kim Thanh, 2006. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở của Thành phó Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Nguyễn Xuân Phương, 2008.
Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện Nghị quyết cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp Quận ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính tri quốc gia Hồ Chí Minh. * Bài bao khoa học. Bài báo: “Náng cao chat lượng can bộ lãnh dao, quan ly nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế" của tác giả Văn Tất Thu đăng trên Tạp chí điện tử Cộng sản ngày 31/12/2012, đề cập đến vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước nói chung, những ưu, nhược điểm của đội ngũ này, cũng như đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. PGS,TS Đỗ Ngọc Ninh, Đinh Ngọc Giang, 2005.
Cán bộ công chức với công tác xây dựng Đảng va công tác cán bộ trong thời kỳ đổi mới. Tap chi lý luận chính tri. Các công trình khoa học nước ngoài. Tôn Hiểu Quan, 2004.
Tang cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tang lóp lãnh đạo hăng hái, sôi nồi, phan dau thành dat. NXB Chính trị Quốc gia. Có thể thấy, các tác giả đã đề cập ít nhiều ở những góc độ khác nhau việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức. Ngoài ra, các công trình, luận văn, luận án nói trên đều đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích đầy đủ, sâu sắc về các nội dung liên quan đến phát triển đội ngũ CBCC nói chung và CBCC cấp quận, huyện nói riêng.
Đồng thời đưa ra các giải pháp đối với công tác tuyển dụng, bồ nhiệm, sử dụng, bồi dưỡng và dao tạo, các chính sách đãi ngộ nhằm nâng cao năng lực, bổ sung vả hoàn thiện đội ngũ CBCC. Tác giả luận văn trân trọng kế thừa các công trình nghiên cứu nói trên nhằm thực hiện tốt đề tài của mình. Tuy nhiên, chưa có nhiêu công trình nghiên cứu riêng vê vân đê xây 7 dựng đội ngũ cán bộ công chức ở cấp Quận nói chung. Đặc biệt là vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ công chức của Quận Đống Da, Thành phó Hà Nội, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến.
Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ công chức nói riêng của quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Những vấn đề cơ bản về đội ngũ cán bộ công chức cấp Quận: 1. Khái niệm cán bộ công chức cấp Quận: Khái niệm “cán bộ”, “công chức” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tô chức chính trị, tô chức chính trị - xã hội. Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công vụ và vì vậy các học giả, các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đội ngũ công chức.
Hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau. Thuật ngữ khi đó thường dùng là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, từ những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ. Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dich vụ công trong bộ máy nha nước, thậm chi gây nhằm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ. Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỉ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này.
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế; những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt với các nước; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại mà nội hàm “cán bộ” cũng có thay đôi. Ở nước ta, khái niệm “cán bộ” cũng chưa được hiểu thống nhất và được sử dụng chung dé ghép với “công chức”, “viên chức”. Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy định cụ thể như sau: 1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp Quận), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bố nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp Quận; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý cua đơn vi sự nghiệp công lập của Dang Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quan lý của đơn vi sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vi sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.