phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tải liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: CHUONG |: Một số cơ sở khoa học về đầu tư trực tiếp nước ngoai và môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài CHƯƠNG 2: Thực trạng môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc CHƯƠNG 3: Một số đề xuất giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020. CHUONG 1: MOT SO CƠ SỞ KHOA HỌC VE DAU TƯ TRỰC TIẾP NUOC NGOAI VA MOI TRUONG THU HUT VON DAU TU TRUC TIEP NƯỚC NGOÀI 1. TONG QUAN VE VON DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ.
Nhưng từ khi mới xuất hiện vào khoảng cuối thé ky XIX, FDI đã có vị trí đáng ké trong quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động FDI không ngừng mở rộng và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các quan hệ kinh tế này. Cho đến nay FDI đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại và một nhân tố quy định bản chất của các quan hệ kinh tế quốc tế. Có nhiều tổ chức kinh tế đã đưa ra khái niệm về FDI.
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF thì: FDI là một hoạt động đâu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nên kinh tế khác nên kinh tế nước chủ dau tư, mục đích của chủ dau tư là giành quyên quản lý thực sự doanh nghiệp. Lợi ích lâu dài ngu y sự ton tại của một mối quan hệ lâu dai giữa chủ dau tư với các doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của việc quản lý doanh nghiệp. Dau tư trực tiếp bao gom cả những giao dịch ban dau của các chủ thé và các giao dịch vốn tiếp theo giữa họ và giữa các doanh nghiệp trực thuộc dưới hình thức hợp nhất hoặc chưa hợp nhất. [OECD,1996] Ở Việt Nam, năm 2005, Quốc hội Việt Nam khoá XI đã thông qua Luật đầu tư 2005.
Trong luật này có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm về “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, chúng ta có thé tổng hop và hiểu một cách khái quát: FD/ là hình thức dau tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn dau tư và tham gia quan lý hoạt động dau tư ở Việt Nam hoặc nhà dau tư Việt Nam bỏ vốn đâu tư và tham gia quản lý hoạt động dau tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy, theo các tô chức kinh tế thế giới cũng như các nguồn luật trong nước, khái niệm về FDI về cơ bản là giống nhau và không có sự mâu thuẫn. Nói một cách khác, FDI là một loại hình di chuyên vốn quốc tế dài hạn trong đó, chủ sở hữu vốn đầu tư cũng đồng thời là người tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng đồng vốn của mình, nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận va những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
Việc hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là do các tổ chức kinh tế, cá nhân và công ty quốc tế đưa vốn vào nước sở tại để đầu tư theo các hình thức khác nhau, phù hợp với quy định trong Luật đầu tư của nước sở tại. FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập doanh nghiệp ở nước sở tại. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khâu hàng hoá. Vai trò cơ bản đối với các nước đang phát triển 1.
Bồ sung nguồn vốn Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp, GDP và GDP tính theo đầu người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư dé phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất lớn. FDI với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các nước đang phát triển giải quyết được bài toán thiếu vốn. Trong các nguồn vốn từ nước ngoài thì nguồn vốn FDI được đánh giá là rất quan trọng với nhiều nước.
FDI chiếm một ty trọng đáng ké (trung bình trên 30%) trong tổng vốn dau tư toàn xã hội của các nước đang và kém phát triển. Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, cần nói đến chất lượng của vốn FDI. Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phan tao điêu kiện cho nguôn von Nhà nước tập trung vào các vân đê kinh tê xã hội ưu tiên (cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi. Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước.
Các doanh nghiệp nhà nước phải đầu tư và chú ý đến hiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI. Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra sự liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu. Qua đó, FDI thúc day đầu tư trong nước đang phát triển. Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác hiệu quả hơn.
Chuyên giao công nghệ Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem lại công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất ở nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chỉ nhánh. Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ dé sẵn sảng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước. FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua con đường chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở các nước đang phát triển dé phục vu cho các dự án đầu tư.
Ngoài ra, chuyển giao công nghệ còn được thông qua việc chuyên lao động. Thông qua FDI, kỹ năng quản lý, kỹ năng tay nghề lao động được truyền bá vào các nước đang phát triển. Tạo điều kiện việc làm và tăng nguồn nhân lực FDI giúp các nước đang phát triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dao. Ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người lao động, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo.
Nhìn chung, số lượng việc làm trong khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước phát triển có xu hướng tăng lên. Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động. Năng suất lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn trong các doanh nghiệp nhà nước. Với tiêu chí coi hiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyến dụng và sử dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn FDI thường xây dựng đội ngũ công nhân, nhân viên lành nghề, có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao.
Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới Vai trò này của FDI thể hiện rõ nhất ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng vào xuất khẩu. Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khâu. Bên cạnh đó, thông qua các mỗi quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI được tiếp cận với thi trường thế giới. Củng cô và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đây nhanh tiến trình hội nhập vào nên kinh tế khu vực và thế giới Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển.
Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế gidi. Điều này tạo thuận lợi cho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác song phương, đa phương. Ngoài ra, FDI còn góp phần chuyên dich cơ cau kinh tế của các nước đang phát triển theo hướng tích cực: tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm dan, thay vào đó là tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Bên cạnh đó, FDI giúp tăng trưởng kinh tế, tăng ngân sách nhà nước.
Một số lý thuyết về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Lý thuyết về vòng đời của sản phẩm (International Product Life Cycle) Lý thuyết này được S.Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R.Vernon phát triển một cách có hệ thống vào năm 1996 trong tác phẩm “ International investment and international trade in product cycle”. Ly thuyết này lý giải cả dau tư và thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm. Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu 10 tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hóa sản xuất theo giai đoạn nối tiếp nhau.
Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải sự thay đôi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là các nước “bắt chước sớm”, sau đó là các nước “bắt chước muộn”. Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này được xuất phát từ ý tưởng của Heckscher - Ohlin rất đơn giản đó là: - Mỗi sản pham có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải; vòng đời này dài hay ngắn tùy thuộc vào từng sản phẩm.