chương 1 cũng đưa ra kinh nghiệm quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với các khu công nghiệp tại một số địa phương trong nước để rút ra một số nhận xét đối với tỉnh Quảng Ninh. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chương 2 phân tích tổng quan về các khu công nghiệp và bộ máy quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, thực trạng quản lý nhà nước khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 – 2021. Ngoài ra, Chương 2 cũng phân tích, đưa ra đánh giá về những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân các hạn chế của thực trạng quản lý KCN địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn này.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3 đưa ra tình hình bối cảnh trong và ngoài nước cùng với một số định hướng, mục tiêu quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp tại thành phố Hạ Long trong giai đoạn 2022 – 2025. Từ đó đưa ra những giải pháp giúp hoàn thiện quản lý cấp tỉnh đối với các các khu công nghiệp trên địa bàn tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về khu công nghiệp 1. Các khái niệm liên quan đến khu công nghiệp KCN được hình thành và phát triển với thời gian gần 100 năm từ những nền công nghiệp lớn của thế giới như Mỹ, Anh, Pháp cho đến những nền công nghiệp năng động mới như Đài Loan, Singapore hay Hàn Quốc,… Có rất nhiều khái niệm về KCN ở mỗi quốc gia do những nét đặc thù riêng trong việc hình thành KCN. Với mỗi quốc gia, KCN sẽ có những hoạt động kinh tế không giống nhau và có thể có nhiều cách gọi khác nhau song chúng đều mang những đặc điểm chung nhất của KCN. KCN có thể định nghĩa tại Philipines (Phạm Mạnh Linh, 2018) là: “KCN là một vùng đất được phân chia và quy hoạch tổng thể dưới sự quản lý đồng nhất và các quy định cơ bản về cơ sở hạ tầng và các tiện ích khác, có hoặc không có các công xưởng đủ tiêu chuẩn và các tiện ích công công đã dựng sẵn cho mục dích sử dụng chung tại KCN”.
Ở Thái Lan, KCN có thể được định nghĩa là khu vực có diện tích rộng lớn, ranh giới về địa lý được chỉ định, phát triển chủ yếu các hoạt động sản xuất xen lẫn đa dạng các hoạt động dịch vụ, có thể có cư dân sinh sống tại đó. Bộ máy quản lý có chức năng quản lý hành chính, quản lý kinh tế và quản lý lãnh thổ”. KCN theo định nghĩa này có thể hiểu là khu hành chính – kinh tế đặc biệt tại Việt Nam. Trong khi đó, tại Malaysia, KCN có thể hiểu là: “Khu vực có lãnh thổ giới hạn cụ thể, đáp ứng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất cho các hoạt động chế tạo công nghiệp, các hoạt động tại đây được tổ chức theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực khác và không có cư dân sinh sống tại đây”.
Qua đó, ta thấy rằng khái niệm về KCN tại một số các quốc gia không hoàn toàn giống nhau. Tại Việt Nam, một số văn bản pháp luật có đề cập đến khái niệm KCN có thể chỉ ra như: Nghị định 36/CP năm 1997 của Chính phủ về quy chế KCN, khu chế xuất và khu công nghệ cao đưa ra khái niệm KCN trong điều 2: “KCN là khu tập trung các 10 doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được thành lập do quyết định của Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủ, có thể có doanh nghiệp chế xuất trong KCN”. KCN có thể hiểu là khu chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định và được thành lập theo quy định của Chính Phủ (Luật Đầu tư 2005). Năm 2008, KCN một lần nữa được định nghĩa rõ ràng tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ về khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghiệp như sau: “KCN là khu chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”.
Bên cạnh đó, một số các định nghĩa có liên quan đến KCN cũng được chỉ ra như: Định nghĩa về khu chế xuất theo Luật Đầu tư 2005: “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”. Khu công nghệ cao cũng được định nghĩa: “Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” (Luật Đầu tư, 2005). Khu kinh tế được hiểu là: khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ (Luật Đầu tư, 2005). Theo khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
11 Theo quy định của Luật Đầu tư 2020 và Nghị định 82/2018/NĐ-CP, khu chế xuất là một loại hình khu công nghiệp, nhưng khu chế xuất lại có những đặc điểm riêng biệt. Theo luận văn này, KCN được hiểu theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Đầu tư 2020. Một số đặc điểm của các khu công nghiệp Các KCN thường có một số những đặc điểm nổi bật dưới đây: Thứ nhất, trong các KCN thường bao gồm nhiều công ty, nhà xưởng theo ranh giới địa lý xác định, có kết cấu hạ tầng: hệ thống cung cấp nước, điện, hệ thống xử lý chất thải được sử dụng chung với nhau cùng một số các dịch vụ liên quan khác. Các sản phẩm đầu ra của các doanh nghiệp trong một KCN có thể liên quan hoặc gắn bó với nhau ví dụ như sản phẩm của nhà máy này sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào hoặc bán thành phẩm cho nhà máy khác,.
Do đó, các nhà xưởng tập trung tại KCN có thể tối ưu hóa chi phí vận chuyển giúp giảm giá thành của sản phẩm và tiết kiệm chi phí cho người tiêu dùng. Thứ hai, đối với các công ty tại KCN sẽ có những quy chế và ưu đãi mà Chính phủ quy định cho họ được hưởng riêng, có những chính sách kinh tế đặc thù để thu hút dòng vốn đầu tư từ nước ngoài, điều này giúp hình thành môi trường hấp dẫn sự đầu tư và cho phép các nhà đầu tư không phải bản địa được sử dụng những khu vực đất đai được chỉ định trong KCN để xây dựng nhà xưởng và các cơ sở hạ tầng được ưu đãi về thuế. Thứ ba, các KCN thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu. Do một số hạn chế về vốn, nên Chính phủ Việt Nam thường đẩy mạnh việc kêu gọi đầu tư từ nguồn vốn trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở hạ tầng trong các KCN.
Thứ tư, KCN là mô hình phát triển kinh tế theo hướng tổng hợp bao gồm nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau tồn tại cùng nhau như: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên danh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nội địa. Phân loại khu công nghiệp KCN có thể phân loại theo nhiều căn cứ khác nhau, có thể kể đến một số căn cứ để phân loại như sau: Một là, dựa vào tính chất của các dự án đầu tư vào KCN ta có thể chia thành hai loại hình KCN bao gồm: KCN xây dựng các cơ sở sản xuất mới và KCN thay đổi cơ sở sản xuất. Hai là, dựa vào các điều kiện kinh doanh cơ sở hạ tầng có thể chia thành KCN có điều kiện kinh doanh có lợi thế và các KCN gặp nhiều bất lợi. Các KCN có lợi thế thường được đặt tại những nơi có tính chất địa lý thuận tiện để thu hút các nhà đầu tư, và các KCN này thường được tự do kinh doanh thông qua cạnh tranh bởi các doanh nghiệp trên thị trường.
Các KCN gặp nhiều bất lợi sẽ nằm ở các vị trí giao thông không thuận tiện hoặc khu vực kinh tế chậm phát triển hơn với điều kiện về cơ sở hạ tầng thấp khó khăn trong việc thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư do đó cần sự hỗ trợ từ nhà nước trong giai đoạn đầu để tạo động lực phát triển. Thứ ba, dựa vào khoản 1 điều 1 Nghị định 82/2018/NĐ-CP có thể chia KCN thành 2 loại: Một là các KCN mang tính truyền thống được quy hoạch liên kết giữa các vùng hoặc lãnh thổ có ảnh hưởng trong phạm vi rộng, được công ty đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo trong quá trình khai thác và đi vào hoạt động. Nhóm 2 là các khu chế xuất có đặc điểm riêng so với KCN truyền thống đó là được ngăn cách với lãnh thổ khác qua hệ thống tường, rào chắn, có cửa ra vào để đảm bảo các điều kiện kiểm tra và rà soát của Hải quan cùng các cơ quan chức năng có liên quan. Việc mua bán hàng hóa giữa khu chế xuất và các khu vực nội địa khác là quan hệ xuất nhập khẩu (ngoại trừ khu phi thuế quan).
Các doanh nghiệp trong khu chế xuất có những ưu đãi đặc biệt được miễn hoặc hưởng những ưu đãi về các loại thuế như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt,… 1.