phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, các bảng phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học ở trƣờng trung học phổ thông theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học ở trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học ở trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh.
e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Chúng ta có thể thấy trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục nhƣ: “Những vấn đề quản lý trƣờng học” của tác giả P. Khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trƣởng nhà trƣờng, nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki đã kết luận rằng “Kết quả hoạt động của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”.
Cùng với nhiều tác giả khác, ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất và khoa học về công tác quản lý giữa Hiệu trƣởng và Phó hiệu trƣởng để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Trong quyển “Best ideas from the world’s teachers for improving Education in the classroom” của Stigler, J. (1999) có nói rằng “Việc học ở trƣờng sẽ không đƣợc cải thiện rõ rệt trừ khi chúng ta trao cho giáo viên cơ hội và sự hỗ trợ mà họ cần để thúc đẩy nghề của mình bằng cách tăng hiệu quả của phƣơng pháp họ sử dụng”. Đây đƣợc xem là một trong những tiền đề để xây dựng một nền giáo dục tốt cho cả giáo viên và học sinh trên khắp thế giới, cuốn sách đƣa ra những ý kiến và phƣơng pháp giảng dạy cho giáo viên, làm cách nào dạy cho có hiệu quả, mang lại sự thích thú cho học sinh, cũng nhƣ nhiệt huyết của giáo viên.
Theo quyển “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục” – Tony Wagner (nguyên tác: The Global Achivement Gap, bản tiếng Việt do Dtbooks phát hành năm 2014) là cuốn sách tập hợp những bài viết nghiên cứu về giáo dục. Trong đó chỉ ra các yếu điểm của một số môi trƣờng giáo dục và học tập thụ động. Ông cho rằng nền giáo dục của chúng ta đang phải đối mặt với sự lỗi thời. Thay vì dạy học sinh trở thành những ngƣời có tƣ duy phản biện và có khả năng giải quyết vấn đề, chúng ta đang khiến ngƣời trẻ tập trung vào việc chuẩn bị cho các kỳ thi và học theo kiểu ghi nhớ dữ liệu.
e 8 Ngoài ra, hƣởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trƣờng học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phƣơng pháp để nghiên cứu bài học là thu hút các học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật. Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế. Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ, chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những ngƣời lao động tốt hơn. Tuy nhiên, suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành.
Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thƣờng xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều. Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập. Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay đã xuất hiện rất nhiều những công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục có giá trị nhƣ: “Bài giảng cơ sở khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 2004) ; Lý luận quản lý giáo dục đại cƣơng của tác giả Nguyễn Khắc Chƣơng.
Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nhƣ: tài liệu “Những khái niệm co bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; tác giả Đặng Quốc Bảo với tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình”. Đó là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục đƣợc tiếp cận từ những mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực. Đinh Quang Báo - Phan Thị Thanh Hội có bài viết Dạy học môn Sinh học tiếp cận chuong trình giáo dục phổ thông mới, Tạp chí Giáo dục, số 435 (Kì 1-8/2018), Tr40-43. Bài báo nêu ra rằng: Chuong trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới có các điểm chính nhu: 1) Định huớng phát triển năng lực nguời học, điều này yêu cầu nguời giáo e 9 viên (GV) cần phải biết cách lựa chọn phuong pháp dạy học (PPDH), cách đánh giá kết quả giáo dục đáp ứng mục tiêu hiẹn thực hóa yêu cầu cần đạt thành và chuẩn đầu ra của chuong trình, nghĩa là cần xem mục tiêu và chuẩn đầu ra là bản thiết kế, còn nguời dạy là nguời đọc bản vẽ thiết kế và thi công làm ra sản phẩm là nhân cách học sinh (HS); 2) Chuong trình và sách giáo khoa (SGK) theo định huớng tích hợp và phân hóa.
Để hiện thực hóa Chuong trình GDPT mới, GV, HS và nhà truờng cần có những nỗ lực trong đổi mới chuyên môn, quản lí. Trong bài viết này, tác giả giới thiẹu một số ví dụ minh họa cho việc GV biết phân tích chuong trình, đọc đuợc bản thiết kế yêu cầu cần đạt để tổ chức dạy học môn Sinh học đáp ứng yêu cầu Chuong trình GDPT mới. Một số nghiên cứu trong các luận van Thạc sĩ quản lý giáo dục, Thạc sĩ giáo dục học cũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trƣờng phổ thông, các địa phƣong cụ thể. Những đề tài này đã nêu ra đƣợc co sở lý luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất đƣợc một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở một số co sở giáo dục.
Các khái niệm chính liên quan đến đề tài 1. Quản lý giáo dục Từ định nghĩa của nhiều tác giả, chúng ta có thể khẳng định: Quản lý giáo dục có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhƣng đều nêu lên bản chất của Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu giáo dục trong một môi trƣờng luôn biến động. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội [4]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động, có mục đích có kế hoạch, hợp chủ thể quy luật của quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm e 10 hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [30].
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm Quản lý giáo dục đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã hội trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng” [23]. Từ những định nghĩa trên có thể diễn đạt một cách khái quát nhƣ sau: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng, có mục đích của nhà quản lý trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Những tác động này có tính chất khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục một cách khoa học, có kế hoạch trong công việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung. Hoạt động dạy học Theo lý luận dạy học hiện đại, hoạt động dạy học là hệ thống các hành động phối hợp, tƣơng tác giữa GV và HS.
Trong đó, dƣới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức – kỹ năng – kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Nhƣ vậy, hoạt động dạy học là một hoạt động kép, gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Hoạt động dạy của ngƣời dạy và hoạt động học của ngƣời học. Trong đó, ngƣời dạy giữ vai trò chủ đạo, dạy hƣớng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; ngƣời học giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo. Hai hoạt động dạy và học cùng hƣớng đến thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.
* Hai thành tố của hoạt động dạy học - Hoạt động dạy: Dạy là hoạt động của giáo viên, nhằm truyền thụ kiến thức cho học sinh để đáp ứng các mục tiêu giáo dục đã đề ra, đồng thời còn là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hƣớng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.